TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HC-ST Ngày: 10/5/2024 Về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Võ Chùm.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Phương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 03/2024/TLST-HC ngày 08 tháng 01 năm 2024; về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HC ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Lê C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: C Quốc lộ A, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Gia H – chức vụ: Chủ tịch. Vắng mặt (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo công văn số 1351/UBND ngày 08/5/2024 của UBND huyện T).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND huyện T có: Ông Nguyễn Văn D – chức vụ: Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T; ông Nguyễn Ngọc V – chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1928; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- + Bà Phan Thị G, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- + UBND xã A – huyện T, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim T – chức vụ: Chủ tịch. Vắng mặt (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/5/2024).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khiếu kiện nộp cho Tòa án, người khởi kiện là ông Lê C trình bày được tóm tắt như sau:
Ngày 16/8/2001, ông Lê T1, trú tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254, gồm có 10 thửa đất, tổng diện tích 7.706m², trong đó có thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), diện tích 700m², đất ở nông thôn (ONT) 200m² + đất trồng cây hàng năm khác (HNK) 500m². Sau khi ông Lê T1 chết để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị M được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai ký xác nhận ngày 16/11/2016.
Ngày 28/3/2017, bà Nguyễn Thị M lập hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất cho ông Lê C thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai chỉnh lý trang 4 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254.
Đến năm 2023, ông Lê C làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được UBND xã A và UBND huyện T cho biết trên thực tế, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), không có thửa đất số 312. Theo hiện trạng, ông Lê T1 sử dụng thửa đất số 243, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1994), diện tích 2.240m² nay là thửa đất số 557, tờ bản đồ 05 (đo đạc năm 2012), diện tích 981,4m².
UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254, thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), ký ngày 16/8/2001 cho ông Lê T1 sử dụng, để lại thừa kế cho bà Nguyễn Thị M sử dụng, bà M cho tặng quyền sử dụng đất cho ông Lê C là cấp không đúng thông tin thửa đất. Ông Lê C đã yêu cầu UBND huyện T hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254, thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995) để cấp giấy chứng nhận khác nhưng UBND huyện T không thực hiện. Do đó, ông Lê C khởi kiện, yêu cầu TAND tỉnh Phú Yên giải quyết:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 do UBND huyện T ký ngày 16/8/2001 đối với thửa đất 312 tờ bản đồ số 07 (bản đồ 299, xã A).
- Cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất ông Lê C đang sử dụng là thửa 243 tờ bản đồ 07/299 (hoặc thửa 557 tờ bản đồ 05 đo năm 2012).
* Tại công văn số 1079/UBND ngày 15/4/2024, người bị kiện là UBND huyện T trình bày được tóm tắt như sau:
Ngày 16/8/2001, ông Lê T1, trú tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254, gồm có 10 thửa đất, tổng diện tích 7.706m², trong đó có thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), diện tích 700m², đất ở nông thôn (ONT) 200m² + đất trồng cây hàng năm khác (HNK) 500m². Sau khi ông Lê T1 chết để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị M được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai ký xác nhận ngày 16/11/2016. Ngày 28/3/2017, bà Nguyễn Thị M lập hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất cho ông Lê C thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), diện tích 700m², đất ở nông thôn (ONT) 200m² + đất trồng cây hàng năm khác (HNK) 500m², được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai chỉnh lý trang 4 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254. Qua kiểm tra tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), diện tích 700m², thửa đất số 312 không có trên bản đồ. Vì theo tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), số thửa đất cuối cùng là thửa đất 309. Theo hiện trạng ông Lê T1 đang sử dụng thửa đất số 243, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1994), diện tích 2.240m² nay là thửa đất số 557, tờ bản đồ 05 (đo đạc năm 2012), diện tích 981,4m² để lại thừa kế cho bà Nguyễn Thị M sử dụng, bà M cho tặng quyền sử dụng đất cho ông Lê Cười . Do đó, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254, thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), diện tích 700m², đất ở nông thôn (ONT) 200m² + đất trồng cây hàng năm khác (HNK) 500m², ký ngày 16/8/2001 cho ông Lê T1 sử dụng để lại thừa kế cho bà Nguyễn Thị M sử dụng, bà M cho tặng quyền sử dụng đất cho ông Lê C là cấp không đúng đối tượng sử dụng đất. UBND huyện T có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M, Phan Thị G do người đại diện theo ủy quyền Nguyễn Thị Thanh N đại diện thống nhất trình bày: Thống nhất với nội dung trình bày của ông Lê Cười.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã A, huyện T do người đại diện theo pháp luật trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/5/2024 như sau: UBND xã A không liên quan đến yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính của ông Lê Cười. UBND xã A không có ý kiến gì đối với tranh chấp của ông Lê Cười. Đề nghị TAND tỉnh Phú Yên tiến hành làm việc, giải quyết, xét xử vắng mặt UBND xã A theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người khởi kiện vẫn giữ nguyên nội dung và quan điểm của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Vụ án đã được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 được UBND huyện T ban hành không đảm bảo đúng quy định pháp luật. Theo UBND huyện T thì tờ bản đồ số 07 không có thửa đất 312; thửa đất ông Lê T1 quản lý, sử dụng là thửa 243, tờ bản đồ 07. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê C, tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 được UBND huyện T cấp cho ông Lê T1 đối với thửa đất 312, tờ bản đồ 07; buộc UBND huyện T cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác cho ông Lê C đối với thửa 243, tờ bản đồ số 07, tọa lạc thôn P, xã A, huyện T.
Về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
- [1] Về thủ xét xử vắng mặt: Người bị kiện là UBND huyện T, và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã A – huyện T có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 157, 158 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Đối tượng khởi kiện:
Quyết định hành chính bị khởi kiện là một phần nội dung của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 ngày 16/8/2001 của UBND huyện T đã cấp cho ông Lê T1, đối với thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Hành vi hành chính bị khởi kiện là hành vi không cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê C đối với thửa đất số 243, tờ bản đồ 07 tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên của UBND huyện T.
- [3] Quyền khởi kiện: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 ngày 16/8/2001 của UBND huyện T đã cấp cho ông Lê T1, đối với thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; được đăng ký biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị M ngày 16/11/2016 do được hưởng thừa kế; bà M tặng cho ông Lê C, bà Phan Thị G được đăng ký biến động sang tên ngày 28/3/2017 nên ông Lê C có quyền khởi kiện quyết định hành chính là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 ngày 16/8/2001 của UBND huyện T đã cấp cho ông Lê Thường .1
- [4] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đối tượng khởi kiện trong vụ án là quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai do UBND huyện T có thẩm quyền ban hành và thực hiện nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
- [5] Thời hiệu khởi kiện: Năm 2023, ông Lê C phát hiện thửa đất số 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995), tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên được UBND huyện T cấp cho ông Lê T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 ngày 16/8/2001 là không đúng thông tin thửa đất do không tồn tại thửa 312; thực tế ông Lê T1 sử dụng thửa đất số 243, tờ bản đồ 07 tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên nên yêu cầu UBND huyện T cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đúng thông tin thửa đất nhưng UBND huyện T không thực hiện. Ngày 01/12/2023, ông Lê C khởi kiện là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
- [6] Tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện:
- Về hình thức của quyết định hành chính bị khởi kiện là văn bản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 được UBND huyện T ban hành để giao thửa đất 312, tờ bản đồ số 07 (đo đạc năm 1995) cho hộ gia đình, cá nhân, đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 23 và khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 36 Luật Đất đai năm 1993.
- Về nội dung: Theo UBND huyện T xác định thì tờ bản đồ số 07 không có thửa đất 312; thửa đất ông Lê T1 quản lý, sử dụng là thửa 243, tờ bản đồ 07. Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 được UBND huyện T cấp cho ông Lê T1 đối với thửa đất 312, tờ bản đồ 07, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên có sai sót về thông tin thửa đất, là quyết định hành chính không hợp pháp.
- [7] Tính hợp pháp của hành vi hành chính bị khởi kiện: Căn cứ vào nội dung phân tích tại mục [6] thì UBND huyện T phải đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 được UBND huyện T cấp cho ông Lê T1 để cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng khác cho ông Lê C do được nhận chuyển giao quyền sử dụng đất hợp pháp. Tuy nhiên, UBND huyện T không thực hiện hành vi đính chính, thu hồi để cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác cho ông Lê C là không đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013.
- [8] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê C về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 ngày 16/8/2001 được UBND huyện T cấp cho ông Lê T1 đối với thửa đất số 312, tờ bản đồ 07, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Buộc UBND huyện T thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng khác với thửa 243, tờ bản đồ 07, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cho ông Lê C theo đúng quy định pháp luật.
- [9] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.078.000đ. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông Lê C xác định ông Lê C tự nguyện chịu chi phí này nên ghi nhận, khấu trừ vào số tiền 5.078.000đ do ông Lê C đã nộp tạm ứng là thi hành xong.
- [10] Về án phí: Ông Lê C khởi kiện được chấp nhận nên UBND huyện T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Lê C tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- [11] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, các điều 157, 158, 193, 358 của Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê C:
- + Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828254 ngày 16/8/2001 do UBND huyện T cấp cho ông Lê T1 đối với thửa đất số 312, tờ bản đồ 07, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- + Buộc UBND huyện T thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng khác đối với thửa 243, tờ bản đồ 07, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cho ông Lê C theo đúng quy định pháp luật.
- - Chi phí tố tụng: Ông Lê C tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.078.000đ (Năm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn đồng); được khấu trừ vào số tiền 5.078.000đ (Năm triệu không trăm bảy mươi tám nghìn đồng) ông Lê C đã nộp tạm ứng là thi hành xong.
- - Về án phí: UBND huyện T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Hoàn trả cho ông Lê Cười 3 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp có tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000361 ngày 08/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
- - Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thơ Hiền |
Bản án số 18/2024/HC-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 18/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
