|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày: 27 - 11 - 2024 V/v Tranh chấp về quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Cúc
- Bà Hoàng Thị Ngọc
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký TAND huyện Yên Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 27/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2023/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “ Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST – DS ngày 06/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QÐST-DS ngày 20/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/QÐST-DS ngày 30/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QÐST-DS ngày 30/10/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1957 (Có mặt)
- Địa chỉ: Tổ A, Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Xuân C, sinh năm: 1964 (Có mặt)
- Địa chỉ: SN G P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Bị đơn:
- Ông Lê Hữu L, sinh năm 1960. (Có mặt)
- Ông Lê Hữu N, sinh năm 1963. (Có mặt)
- Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1938. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Sơn Cường, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, Thanh Hóa
- Bà Lê Thị L1, sinh năm 1957(Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn Hòa Thượng, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, Thanh Hóa
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1968(Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn Hòa Thượng, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, Thanh Hóa
- Bà Lê Thị N1, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Thành Thái, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, Thanh Hóa
- Anh Lê Hữu H1, sinh năm 1986(Vắng mặt)
- Anh Lê Hữu H2, sinh năm 1998(Vắng mặt)
- Chị Lê Thị H3, sinh năm 1991(Vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Tổ A, Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh H1, anh H2, chị H3 ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị M. (Có mặt)
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1957 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn B, Sinh năm: 1968 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2023 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Chồng bà là ông Lê Hữu H4 (chết ngày 28/10/2021). Ông H4 là con đẻ của ông Lê Hữu T2 (chết năm 2011) và bà Lê Thị S (chết năm 2014). Trước đây ông Lê Hữu T2 và bà Lê Thị S tạo dựng được một khối di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01, bản đồ 299 xã Y, diện tích 1152 m² loại đất “T” (Tương ứng với thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003, diện tích 503 m² và thửa 611, tờ bản đồ số 6, diện tích 901 m²), địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Năm 1980, ông Lê Hữu H4 có xin đất ở tại thửa đất số 275, tờ bản đồ số 01, diện tích 1133 m². Sau đó, bố mẹ và anh em trong gia đình ông chồng bà đã thống nhất: Đổi vị trí đất ông H4 xin cấp cho của ông T2, bà S và ông H4 sẽ vào sinh sống tại thửa đất của ông T2, bà S. Vì là bố mẹ, anh em trong gia đình nên việc đổi đất không có biên bản mà các bên chỉ thống nhất bằng miệng. Sau đó các bên đã nhận đất và sinh sống ổn định từ đó cho đến nay. Quá trình sinh sống, quản lý, sử dụng tại thửa đất đổi cho ông T2, bà S, đến ngày10/5/2006 ông Lê Hữu H4 và bà đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ lần đầu đối với thửa đất số 611, tờ bản đồ số 6, diện tích 901 m², mục đích sử dụng: Đất ở. Ngày 10/7/2019, UBND huyện Y cấp đổi giấy chứng nhận đối với thửa đất này. Sau đó ông H4 tiếp tục đề nghị cơ quan Nhà nước cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất còn lại là thửa đất 610, tờ bản đồ số 6, diện tích 503 m² nhưng bị những người con khác của ông T2 bà S cản
trở vì họ cho rằng thửa đất này là của ông T2, bà S. Hiện nay ông T2, bà S đã chết, trước khi chết ông T2, bà S không để lại di chúc.
Thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003; Tương ứng với thửa số 530, tờ bản đồ số 17, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2013 hiện vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ cho bất kỳ ai. Từ trước đến nay, thửa đất nêu trên do bà và chồng bà là ông H4 quản lý, trông coi. Đồng thời để thuận tiện cho việc trông coi, quản lý đất đai và thờ cúng tổ tiên, vợ chồng bà đã xây dựng một ngôi nhà cấp IV, một giếng đào trên thửa đất 611, tờ bản đồ số 6 đã được cấp GCNQSDĐất. Đến ngày 07/01/2022, bà có cho ông Nguyễn Kim T3 thuê thửa đất này và được Chủ tịch UBND xã Y chứng thực về việc cho thuê đất.
Vài năm trở lại đây các đồng thừa kế của ông Lê Hữu T2 và bà Lê Thị S thường xuyên xảy ra tranh chấp với gia đình bà. Việc này đã được UBND xã Y tổ chức hòa giải nhiều lần, nhưng đều không hòa giải thành.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà, bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết: Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003. Tương ứng với thửa đất số 530, tờ bản đồ số 17, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2013 là của gia đình bà.
- Tại bản tự khai ngày 26/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Lê Hữu L trình bày:
Hiện nay bà M đang làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003; Tương ứng với thửa đất số 530, tờ bản đồ số 17, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2013 hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai. Hiện trên đất có một căn nhà, hai gian bếp bị sập, một cái giếng, một chuồng lợn sập. Hiện nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, tương ứng với thửa đất số 530 tờ bản đồ số 17 là của gia đình ông Lê Hữu H4, ông không chấp nhận. Vì bà M không có quyền khởi kiện, lý do vì bà M không có giấy đăng ký kết hôn với ông H4. Thửa đất và ngôi nhà hai gian của ông Lê Hữu T2, bà Lê Thị S (là bố mẹ đẻ). Khi bố mẹ ông mất không để lại di chúc bằng văn bản, mà chỉ nói với mọi người ai nuôi bố mẹ thì được quyền sử dụng. Từ khi bố mẹ ông mất đến nay thửa đất đó do ông Lê Hữu N đang trông coi. Vì vậy quan điểm của ông, bà M làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất là di sản của bố mẹ ông cho ông H4 là không được, ông không đồng ý. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chia thừa kế phần đất của ông T2, bà S cho
anh chị em gồm bảy người con: Lê Thị H, Lê Hữu H4 (Đã chết), Lê Thị L1, Lê Hữu L, Lê Hữu N, Lê Thị T, Lê Thị N1.
- Tại bản tự khai ngày 26/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Lê Hữu N trình bày:
Bà M không có quyền khởi kiện vì bà M không có giấy đăng ký kết hôn với ông H4. Thửa đất và ngôi nhà hai gian của ông Lê Hữu T2, bà Lê Thị S (là bố mẹ đẻ). Khi bố mẹ ông mất không để lại di chúc bằng văn bản, mà chỉ nói với mọi người ai nuôi bố mẹ thì được quyền sử dụng. Từ khi bố mẹ ông mất đến nay thửa đất đó do ông Lê Hữu N đang trông coi. Vì vậy quan điểm của ông, bà M làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất là di sản của bố mẹ ông cho ông H4 là ông không đồng ý. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chia thừa kế phần đất của ông T2, bà S cho anh chị em gồm bảy người con: Lê Thị H, Lê Hữu H4 (Đã chết), Lê Thị L1, Lê Hữu L, Lê Hữu N, Lê Thị T, Lê Thị N1.
- Tại bản tự khai ngày 26/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Lê Thị H, bà Lê Thị L1, bà Lê Thị T, bà Lê Thị N1 thống nhất trình bày:
Cùng thống nhất với ý kiến với ông Lê Hữu L. Bà M không có quyền khởi kiện vì bà M không có giấy đăng ký kết hôn với ông H4. Thửa đất và ngôi nhà hai gian của ông Lê Hữu T2, bà Lê Thị S (là bố mẹ đẻ). Khi bố mẹ bà mất không để lại di chúc bằng văn bản, mà chỉ nói với mọi người ai nuôi bố mẹ thì được quyền sử dụng. Từ khi bố mẹ bà mất đến nay thửa đất đó do ông Lê Hữu N đang trông coi. Vì vậy quan điểm của bà, bà M làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất là di sản của bố mẹ ông cho ông H4 là không được, bà không đồng ý. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chia thừa kế phần đất của ông T2, bà S cho anh chị em gồm bảy người con: Lê Thị H, Lê Hữu H4 (Đã chết), Lê Thị L1, Lê Hữu L, Lê Hữu N, Lê Thị T, Lê Thị N1.
- Tại bản tự khai ngày 08/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị T1 trình bày:
Bà và anh Lê Hữu H4 cưới nhau từ năm 1976 sống với nhau đến năm 1989 thì vợ chồng ly hôn. Đến ngày 18/7/1989 Tòa án nhân dân huyện Thiệu Yên (nay là huyện Y) đã xét xử cho bà và ông H4 được ly hôn. Trong thời gian sinh sống bà và ông H4 có tài sản chung là đất và một ngôi nhà cấp IV, 05 gian và các tài sản khác. Khi đó Tòa án chia cho bà một gian nhà và đất về phía tây 01 đốc 02 vì phần đất kéo thẳng từ trước lại sau. Còn ông H4 được phần 04 gian nhà 01 đốc 03 vì trên phần từ gian nhà thứ tư thẳng trước sau đến ranh giới về phía đông. Sau khi ly hôn bà và ông H4 chưa đề nghị tách đất, lúc đấy nhà chưa dỡ, bà đi làm ăn xa. Bố mẹ ông H4 đang ở với ông L là em trai ông H4. Sau đó ông bà mất. Thì ông L
quản lý trông coi thửa đất trên. Thời gian đó ông H4 lấy bà M, sau đó bà M vào trong miền N sinh sống. Năm 2023 ông H4 chết bà M quay trở về yêu cầu ông L trả lại đất cho bà M. Bà M cho rằng thửa đất trên là của gia đình bà M. Nên đã sảy ra tranh chấp. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bà yêu cầu: Thửa đất mà hiện nay đang xảy ra tranh chấp trong đó có phần đất là tài sản của bà. Đã được Tòa án phân chia cụ thể khi bà và ông H4 ly hôn. Nay bà đề nghị ông L trả lại phần đất theo như bản án số 95 ngày 18/7/1989 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Yên đã thể hiện.
- Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/11/2023 và ngày 26/7/2024 thể hiện: Tổng diện tích thửa đất là 521,3m², trên đất có 01 bụi tre, 5 cây xoan, 01 cây khế, có ngôi nhà cấp IV, 03 gian đã sập, bức tường có diện tích 30m², có 01 giếng đào xây không trát hồ.
- BB định giá tài sản: Thửa đất 530, tờ bản đồ 17, theo giá nhà nước là 265.000đ/1m², giá thị trường là 863.000đ/1m². Tổng giá trị 450.000.000đ. Các tài sản khác không yêu cầu định giá.
Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M vẫn khẳng định thửa đất trên là của ông H4 chồng bà. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên bà xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ông Lê Hữu L, ông Lê Hữu Ngọc N, bà Lê Thị L1, bà Lê Thị T, bà Lê Thị N1 khẳng định bà M không có quyền khởi kiện vì bà M không có giấy chứng nhận kết hôn với ông H4. Thửa đất 530 là của bố mẹ ông. Bố mẹ ông mất không để lại di chúc nên thửa đất trên thuộc quyền sở hữu của các con.
Bà Lê Thị T1 khẳng định phần đất của bà đã được Tòa án phân chia theo như bản án số 95 ngày 18/7/1989 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Yên đó là phần tài sản của bà, yêu cầu ông N, ông L phải trả lại thửa đất trên cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung: Căn cứ Điều 236 Luật đất đai 2024. Điều 147, 157, 165, 227, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M do bà M rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị T1 về việc yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6 bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003, tương ứng với thửa 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² là tài sản của bà được chia trong vụ án ly hôn giữa bà và ông H4.
Về án phí và chi phí tố tụng: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
{1} Về tố tụng: điểm b khoản 2 Điều 227
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Tại phiên tòa bà H và bà N1 vắng mặt. Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và bà N1 là đúng quy định.
{2} Về nội dung:
2.1. Xác định nguồn gốc thửa đất và người sử dụng đất:
Thửa đất các bên hiện đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông Lê Hữu T2 và bà Lê Thị S (bố mẹ ông Lê Hữu H4). Theo bản đồ 299 là thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01 diện tích 1152 m². Ông T2 bà S quản lý sử dụng thửa đất này.
Năm 1976 ông H4 và bà T1 xây dựng gia đình, thời điểm đó khi gia đình có dâu thì làm đơn xin đất để san hộ. Vì vậy vào năm 1980 Nhà nước đã cấp cho ông H4 tại thửa đất số 275, tờ bản đồ số 01, diện tích 1133 m². Ông H4 và bà T1 làm nhà sinh sống trên thửa đất đó.
Do ông H4 là con trai cả nên gia đình bàn và thống nhất đổi vị trí đất. Ông H4 và bà T1 vào sống tại thửa đất số 241 của ông bà để lại. Còn ông T2, bà S ra sống tại thửa đất số 275 Nhà nước cấp cho ông H4 và bà T1. Việc đổi đất do nội bộ gia đình tự giàn xếp với nhau và chỉ nói bằng miệng chứ không làm văn bản giấy tờ, không báo cáo với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc đổi đất là thực tế các bên đều thừa nhận và sau khi đổi đất hai bên đã vào ở và sử dụng diện tích đất mình đã đổi.
Do bà T1 không có con nên vợ chồng bàn bạc cho ông H4 lấy bà Nguyễn Thị M làm vợ năm. Năm 1986 sinh cháu đầu là Lê Hữu H1. Thời điểm bà M và ông H4 sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985.
Năm 1989 ông H4 xin ly hôn bà T1. Tòa án giải quyết cho ly hôn và phân chia tài sản chung cho hai người. Theo tài liệu 02 Trích lục bản án do bà M và bà
T1 cung cấp là hai bản án sơ thẩm ở hai thời điểm khác nhau và có nội dung một số điểm khác nhau. Tuy nhiên, trong hai trích lục án chỉ nói đến tài sản trên đất mà không đề cập đến vấn đề giao đất cho hai người cụ thể là bao nhiêu. Thời điểm ông H4 và bà T1 ly hôn ông T2 và bà S không ở trên thửa đất số 241 nên trích lục bản án không đề cập đến quyền lợi của ông T2 và bà S.
Năm 1999 ông H4 và bà M vào N sinh sống. Ông T2 và bà S bàn giao thửa đất số 275 cho ông L ở, vì thời điểm đó ông L đã xây dựng gia đình. Ông T2 và bà S vào thửa đất số 241trước đây đã đổi cho ông H4 ở. Ông T2 và bà S xây một ngôi nhà ngói 03 gian gian và bếp, đào giếng sinh sống trên thửa đất đó. Thời điểm đó ông H4 và bà M không có nhà.
Theo bản đồ địa chính xã Y năm 2003 và trong sổ địa chính thì thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01 diện tích 1152 m² được tách làm 02 thửa, thành thửa số 610 diện tích 503 m² và thửa 611, diện tích 901 m² cùng tờ bản đồ số 6. Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Việc tách thửa và ai đề nghị tách thửa đến nay không xác định và lý giải được.
Ngày 10/5/2006 ông H4 và bà M đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa đất số 611, tờ bản đồ số 6, diện tích 901 m², mục đích sử dụng là đất ở. Thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H4 và bà M không có nhà.
Theo bản đồ địa chính năm 2013 và trong sổ địa chính thì thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01 diện tích 1152 m² được đổi thành 02 thửa. Thửa số 610 diện tích 503 m² được đổi thành thửa 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² . Thửa 611, diện tích 901 m² được đổi thành thửa 531, tờ bản đồ số 17, diện tích 737,4 m² so với bản đồ 2023 thửa 531 bị thiếu 164 m² cùng tờ bản đồ số 6.
Ngày 10/7/2019, UBND huyện Y cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H4 và bà M thửa 531, tờ bản đồ số 17, diện tích 737,4 m². So với bản đồ 2023 thửa 531 bị thiếu 164 m². Việc thiếu đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ ông H4 và bà M không có ý kiến gì.
Đối với thửa đất 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong sổ địa chính lập năm 2003 và trong sổ mục kê đất đai lập năm 2014 đều đứng tên ông T2 và bà S.
Năm 2021 ông H4 làm đơn đề nghị cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² nhưng bị các chị em của
ông H4 ngăn cản. Sự việc đã được UBND xã Y giải quyết nhiều lần nhưng không thành.
Như vậy, lịch sử của thửa đất trên cho thấy: Về nguồn gốc thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01 diện tích 1152 m² là của ông T2 bà S. Vào khoảng năm 1980 ông T2 bà S đã đổi đất cho ông H4 và bà T1 ra ở thửa đất số 275. Thửa đất số 241 ông H4 và bà T1 sử dụng từ đó. Năm 1989 ông H4 và bà T1 ly hôn Tòa án đã phân chia tài sản cho ông H4 và bà T1. Năm1985 bà M về sinh sống với ông H4 trên thửa đất đó. Năm 1989 ông H4 và bà T1 làm thủ tục ly hôn. Năm 1999 ông H4 và bà T1 đi vào N làm ăn không có người trông coi. Khoảng năm 2000 ông T2 và bà S trở về sinh sống trên thửa đất số 241 cho đến khi qua đời. Năm 2003 thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01 diện tích 1152 m² được tách làm 02 thửa, thành thửa số 610 diện tích 503 m² và thửa 611, diện tích 901 m² cùng tờ bản đồ số 6. Sự kê khai và tách thửa đất trên khi ông H4 và bà M không có nhà. Hiện tại ông T2 và bà S, ông H4 đều đã chết, các tài liệu hiện có chưa đủ căn cứ để khẳng định diện tích được tách ra là của ai.
2.2. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị M:
Bà M yêu cầu Tòa án Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003, tương ứng với thửa đất số thửa đất 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² là của gia đình bà. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị M xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc bà Nguyễn Thị M xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.
2.3. Xét yêu cầu của bà Lê Thị T1:
Bà T1 cho rằng thửa đất thửa đất số thửa đất 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² mà hiện nay đang xảy ra tranh chấp là tài sản của bà đã được Tòa án phân chia cụ thể khi bà và ông H4 ly hôn. Nay bà đề nghị ông L trả lại phần đất theo như bản án số 95 ngày 18/7/1989 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Yên đã thể hiện. Chứng cứ chứng minh cho việc yêu cầu là Bản trích lục án dân sự cấp ngày 02/8/1989 với nội dung của bản án số 95 ngày 18/7/1989 do trợ lý Chánh án Lê Sỹ D ký.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T1 và ông H4 làm thủ tục ly hôn từ năm 1989 là đúng. Hồ sơ ly hôn hiện nay không còn lưu trữ ở hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa. Nghiên cứu Trích lục bản án do bà T1 cung cấp là bản án sơ thẩm số 95 ngày 18/7/1989 và Trích lục bản án do bà M cung cấp là bản án sơ thẩm số 88 ngày 22/11/1990 thì có thể hiểu quá trình tố tụng như sau: Vụ án ly hôn của ông H4 và bà T1 được xét xử sơ thẩm ngày 18/7/1989. Sau khi xét xử sơ thẩm do có kháng cáo nên Tòa án tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm giao về xét xử sơ thẩm lại nên mới có bản án sơ thẩm số 88 ngày 22/11/1990. Trích lục bản án dân sự sơ thẩm số 95 ngày 18/7/1989 do bà T1 cung cấp được ban hành ngày 02/8/1989 khi bản án số 95 chưa có hiệu lực pháp luật và bản án trên đã bị hủy được thay thế bằng bản án sơ thẩm số 88 ngày 22/11/1990. Nếu đúng vậy thì bản Trích lục bản án dân sự sơ thẩm số 95 ngày 18/7/1989 không có giá trị pháp lý. Theo nội dung của 02 bản trích lục nêu trên Tòa án chỉ phân chia tài sản trên đất, còn về đất Tòa không phân chia nên đất không có tứ cận, diện tích, số thửa và vị trí. Mặt khác, các tài sản trên đất hiện nay không còn gì nên không có căn cứ xác định mốc giới vị trí được chia. Từ khi ly hôn bà T1 không ở tại gia đình ông H4 mà về nhà mẹ đẻ sinh sống đến nay đã 34 năm. Bà T1 không phải là người trực tiếp quản lý, sử dụng, không phải là người đăng ký kê khai, nộp tiền sử dụng đất nên không có tên trong sổ địa chính, sổ mục kê và bản đồ địa chính. Do vậy yêu cầu Tòa án xác định thửa đất trên là tài sản của bà được chia là không có cơ sở chấp nhận.
2.4 Xét yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đề nghị chia thừa kế. Thẩm phán đã giải thích về quyền yêu cầu độc lập nhưng không có ai làm đơn và xuất trình chứng cứ chứng minh di sản thừa kế và nộp tiền án phí. Do không có yêu cầu cụ thể nên không thể giải quyết trong vụ án này.
2.5. Về chi phí thẩm định xem xét tại chỗ và định giá tài sản.
Bà M yêu cầu thẩm định xem xét tại chỗ và định giá tài sản, tổng chi phí hết 5.300.000đ, bà M đã nộp đủ. Do bà rút yêu cầu khởi kiện căn cứ khoản 4 Điều 157, khoản 4 Điều 165 bà phải chịu số tiền này.
Bà T1 yêu cầu thẩm định xem xét tại chỗ, tổng chi phí hết 4.400.000đ, bà T1 đã nộp đủ. Do yêu cầu của bà không được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 157 bà T1 phải chịu số tiền này.
2.6. Về án phí: Yêu cầu của bà M và bà T1 không được chấp nhận, nên phải chịu tiền án phí. Tuy nhiên, bà M và bà T1 là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí miễn án phí cho bà M và bà T1.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 4 Điều 157, khoản 4 Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và danh mục mức án phí ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
- Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M do bà M rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
- Không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của bà Lê Thị T1 về việc yêu cầu Tòa án Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 610, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y đo vẽ năm 2003, tương ứng với thửa đất số thửa đất 530, tờ bản đồ số 17 diện tích 521,3 m² là tài sản của bà được chia trong vụ án ly hôn giữa bà và ông Lê Hữu H4.
- Về án phí: Miễn tiền án phí cho bà Nguyễn Thị M và bà Lê Thị T1.
- Về quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
- Đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Thắng |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về quyền sử dụng đất