|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/DS-ST
Ngày: 26-4-2024
V/v: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn, chiếm.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và ông Lê Quang Chính
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 256/2023/TLST-DS, ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn chiếm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QÐST-DS ngày 15/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C
Địa chỉ: Số A N, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Vũ Phương T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: bà Bùi Thị Hoàng T1 – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần C (Văn bản ủy quyền ngày 07/12/2023) – Có mặt.
Bị đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm: 1968 – Vắng mặt
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn P, N, Ninh Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1969 – Vắng mặt
- + Ông Lê Văn Q, sinh năm: 1990 – Vắng mặt
- + Bà Phan Thị Hồng Y, sinh năm: 1990 – Vắng mặt
Cùng địa chỉ: khu phố H, thị trấn P, N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện ngày 07-12-2023 và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có nguồn gốc là đất công do Ủy ban nhân dân thị trấn P quản lý và được UBND tỉnh N cho Công ty Cổ phần C thuê để làm vườn ươm từ năm 2009, hình thức thuê đất trả tiền hàng năm. Năm 2023 Công ty Cổ phần C tiếp tục gia hạn thời gian thuê từ năm 2020 đến năm 2025 theo quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 và hợp đồng thuê đất số 95 ngày 18/8/2023 của UBND tỉnh N. Sau khi gia hạn thuê đất, Công ty cổ phần C được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 891853 cấp ngày 24/8/2023.
Từ năm 2009 khi thuê đất, Công ty đã tiến hành làm hàng rào bằng lưới B40 xung quanh thửa đất để bảo vệ quyền sử dụng đất thuê, khi làm hàng rào không phát sinh tranh chấp với cá nhân tổ chức nào. Năm 2023 bà Lê Thị M không biết từ đâu về ở thửa đất giáp ranh với thửa đất 408 của Công ty thuê, quá trình sử dụng đất bà M có hành vi tháo hàng rào, rào lấn sang phần đất của công ty thuê diện tích khoảng 169,2m². Sự việc được chính quyền địa phương tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng bà Lê Thị M cố tình không chấp hành theo yêu cầu của chính quyền địa phương. Để bảo vệ quyền sử dụng đất đã thuê, Công ty Cổ phần C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước giải quyết những vấn đề sau đối với bị đơn: Buộc bà Lê Thị M phải tháo dở hàng rào, di chuyển cây trồng trên đất và trả lại đất đã lấn chiếm thuộc thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P theo kết quả đo đạc thực tế tại trích lục số 276 ngày 25/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ – Chi nhánh N đã trích lục là 170m² cho Công ty Cổ phần C tiếp tục sử dụng theo hợp đồng thuê đất với UBND tỉnh N.
2. Bị đơn: bà Lê Thị M được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng từ chối nhận các văn bản do Tòa án tống đạt, không có mặt theo giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: từ chối nhận các văn bản do Tòa án tống đạt, không có mặt theo giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.
4. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ Khoản 9 Điều 26; Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ: Điều 99, khoản 3 Điều 102, khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 165, Điều 166, Điều 184 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C.
Buộc bà Lê Thị M và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T2, ông Lê Văn Q, bà Phan Thị Hồng Y phải tự tháo dỡ các vật, công trình trên đất để trả lại diện tích đất lấn chiếm là 170m² thuộc thửa đất số 408, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại thị trấn P, huyện N cho công ty.
Về án phí: bà Lê Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn chiếm” quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án thông báo về việc khởi kiện, triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C, yêu cầu bà Lê Thị M phải tháo dở hàng rào, di dời cây trồng trên đất, trả lại diện tích đất lấn chiếm là 170m² đất thuộc thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P thấy:
2.1. Thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P có nguồn gốc là đất công do UBND thị trấn P quản lý và được UBND tỉnh N cho Công ty Cổ phần C thuê làm vườn ươm từ năm 2009. Năm 2023 tiếp tục được gia hạn thuê từ năm 2020 đến năm 2025 theo Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 và hợp đồng thuê đất số 95 ngày 18/8/2023 của UBND tỉnh N. Từ khi cho thuê đất vào năm 2009 UBND tỉnh N đã bàn giao đúng diện tích, vị trí đất theo hợp đồng thuê. Công ty C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 891853 cấp ngày 24/8/2023, thời hạn sử dụng đất đến năm 2025 dưới hình thức cho thuê trả tiền hàng năm.
2.2. Điều 175 Luật Đất đai 2013 quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm như sau: “Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và 170 của Luật đất đai 2013”. Như vậy Công ty Cổ phần C là chủ thể khác có quyền đối với tài sản là quyền sử dụng đất thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P, trong đó có quyền được nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.
2.3. Điều 166 Bộ luật Dân sự quy định: Chủ sỡ hữu hoặc chủ thể khác có quyền đối với tài sản có quyền đòi lại từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Như vậy khi có căn cứ xác định người khác chiếm hữu, sử dụng một phần hoặc toàn bộ thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P không có căn cứ pháp luật, Công ty Cổ phần C có quyền khởi kiện để yêu cầu người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại phần đất đang chiếm hữu sử dụng không có căn cứ pháp luật.
2.4. Tại trích lục số 276 ngày 25/3/2024 của Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 thể hiện: bà Lê Thị M và các thành viên trong hộ gia đình là người sử dụng đất liền kề hiện đang sử dụng 170m² đất được xác định theo các điểm 1,2,3,4 thuộc thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P đã được Công nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần C. Hiện trạng sử dụng thể hiện tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước như sau: bà Lê Thị M có làm hàng rào lưới B40 trụ bê tông dài 13m cao 1,5m (phía bắc) và làm hàng rào trụ gỗ dây thép dài 13,5m cao 1,5m, trên đất có 06 cây dừa mới trồng, 01 cây xoài mới trồng, 01 cây mít mới trồng, 06 cây chuối mới trồng, bên trong khu đất còn có chuồng nuôi gà quây lưới B40 không có mái che.
2.5. Xét căn cứ sử dụng đất của bà Lê Thị M và các thành viên trong gia đình bà M đối với diện tích 170m² theo yêu cầu của Công ty Cổ phần C thấy:
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị M cũng như các thành viên trong hộ gia đình không chấp hành theo yêu cầu của Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến về việc khởi kiện và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có quyền sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích đất nêu trên. Tại Công văn số 244 ngày 14/12/2023 của UBND thị trấn P (BL số 34) cung cấp thông tin cho Tòa án đã xác định: “Thửa đất số 415 tờ bản số 4 bản đồ địa chính thị trấn P do gia đình bà Lê Thị M đang sử dụng giáp ranh với thửa đất 408 đã được giao cho công ty Cổ phần C thuê không có tên trên bản đồ địa chính, sổ mục kê và đất do UBND thị trấn P quản lý chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai”. Điều này đã loại trừ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn giữa thửa đất số 480 do Ủy ban nhân dân tỉnh N giao cho Công ty cổ phần C thuê với thửa đất số 415 do bà Lê Thị M và các thành viên trong gia đình đang sử dụng trên thực tế.
Công ty Cổ phần C đưa ra đầy đủ tài liệu pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất nêu trên. Do đó có đủ cơ sở để xác định bà Lê Thị M và các thành viên trong gia đình sử dụng 170m² đất thuộc một phần thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ thị trấn P là không có căn cứ pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Dân sự 2015.
2.6. Xét Công ty Cổ phần C là chủ thể chiếm hữu, sử dụng thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P thuộc trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật thông qua giao dịch dân sự (Hợp đồng thuê đất) phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm c khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Dân sự. Điều 185 của Bộ luật Dân sự quy định: Trường hợp chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu Tòa án buộc người đó phải chấm dứt hành vi, khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại. Do đó, Công ty Cổ phần C yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị M là chủ thể không có quyền chiếm hữu phải tháo dở hàng rào, di dời cây trồng trên diện tích 170m² đất thuộc thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P, trả lại đất đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định, trích lục thửa đất Công Ty cổ phần C đã nộp đủ và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí, không yêu cầu Tòa án xem xét nên không xét đến.
[4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.
[5]. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Điều 5, khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 163, 164, 165, 166, 185 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 12, 166, 170, 175 Luật Đất đai 2013.
- - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần C đối với bị đơn bà Lê Thị M.
Buộc bà Lê Thị M và các thành viên trong gia đình gồm: ông Lê Văn T2, anh Lê Văn Q và chị Phan Thị Hồng Y phải tháo dở hàng rào lưới B40 trụ bê tông cao 1,5m, dài 13,22m tại vị trí số 1-2; hàng rào trụ gỗ dây thép dài 13,49m tại vị trí 2-3; chuồng nuôi gà bằng lưới B40 và di chuyển 06 cây dừa mới trồng, 01 cây xoài mới trồng, 01 cây mít mới trồng, 06 cây chuối mới trồng và các tài sản khác phát sinh sau khi có bản án (nếu có). Trả lại diện tích 170m² thuộc thửa đất số 408 tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính thị trấn P được xác định tại các vị trí: 1,2,3,4 trong đó: 1-2: 13.22m; 2-3: 13.49m; 3-4:13,04m; 1-4: 12,43m theo trích lục số 276/2024 ngày 25/3/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện N, cho Công ty Cổ phần C.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Về án phí sơ thẩm:
Công ty Cổ phần C không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001016 ngày 07/12/2023 cho Công ty Cổ phần C.
Buộc bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/4/2024). Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Kèm theo bản án là Trích lục số 276/2024 ngày 25/3/2024 của Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện N.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn, chiếm
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất do bị lấn, chiếm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại TS là QSDĐ bị lấn chiếm
