Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-ST

Ngày: 17/4/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng dân

sự về hụi, vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân.

  • - Ông Phạm Công Đợi;
  • - Ông Phạm Phước Cường.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-DS ngày 29/3/2024, giữa:

Nguyên đơn:Huỳnh Thị Hoàng M, sinh năm 1998; địa chỉ: tổ A, đường Đ O, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bị đơn:Huỳnh Thị Thùy N, sinh năm 1980; địa chỉ: Hẻm A đường N, tổ G, khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người làm chứng:

  • - Nguyễn Thị L, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ H, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang.
  • - Trần Trang Tuyết N1, sinh năm 1998; địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
  • - Nguyễn Thanh M1, sinh năm 1984; địa chỉ: số A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

2

Bà M1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà N, L, N1, M1 vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hoàng M trình bày: Bà Huỳnh Thị Thùy N có tham gia các dây hụi do bà Huỳnh Thị Hoàng M làm chủ và vay tiền của bà M, cụ thể:

  • - Dây hụi thứ nhất: hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 23/6/2022 (nhằm ngày 25/5/2022 Âl), kết thúc ngày 06/01/2024 (nhằm ngày 25/11/2023 Â), hụi gồm 20 phần, bà N tham gia 01 phần và hốt vào kỳ thứ 2 ngày 23/7/2022 (nhằm ngày 25/6/2022 âm lịch). Bà N đóng hụi chết được 10 lần x 2.000.000 đồng = 20.000.000 đồng thì ngưng, bà N còn nợ lại 10 lần x 2.000.000 đồng 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
  • - Dây hụi thứ hai: hụi 500.000đồng/tuần, mở ngày 09/02/2023 (nhằm ngày 19/01/2023 âm lịch), kết thúc ngày 03/8/2023 (nhằm ngày 17/6/2023 âm lịch), hụi gồm 26 phần, bà N tham gia 01 phần và đã hốt vào kì thứ 2 ngày 16/02/2023 (nhằm ngày 26/01/2023 âm lịch). Bà N đóng được đến kì thứ 07 thì ngưng, hiện còn nợ lại 19 kì hụi chết x 500.000 đồng/kì = 9.500.000 (chín triệu năm trăm nghìn) đồng.

Tổng cộng 02 dây hụi bà N còn thiếu là 29.500.000 (Hai mươi chín triệu năm trăm nghìn) đồng.

- Ngày 16/3/2023, bà N có hỏi vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mượn đỡ, không thỏa thuận thời gian, có đóng tiền lãi được 250.000 đồng.

Nay bà M khởi kiện yêu cầu bà N trả vốn tiền hụi còn nợ tổng cộng là 29.500.000 đồng; tiền vay 5.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 30/3/2023.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 12/3/2024, bà Huỳnh Thị Hoàng M rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền vay 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với bà Huỳnh Thị Thùy N.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: danh sách hụi và các tin nhắn (bản photo).

Tòa án đã tống đạt (niêm yết) hợp lệ các các văn bản tố tụng cho bà Huỳnh Thị Thùy N.

Tại phiên tòa,

  • - Chủ tọa công bố lại lời khai, ý kiến yêu cầu của ngyên đơn; lời khai người làm chứng Nguyễn Thị L, Trần Trang Tuyết N1Nguyễn Thanh M1; biên bản xác minh Công an phường C, thành phố C cùng các tài liệu có trong hồ sơ.
  • - Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

3

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khaim chứng cứ của bà M1 cung cấp là các hình ảnh thể hiện nội dung các đoạn tin nhắn qua mạng xã hội (Z) giữa bà M1 với bà N trong đó có nội dung bà N thừa nhận đã nhận đủ số tiền hốt hụi dây hụi 500.000 đồng (BL 15), hình ảnh trên nhóm zalo “Hụi tháng 2 triệu” thể hiện bà N có ký tên nhận tiền đối với số tiền hốt dây hụi 2.000.000 (BL 17,18); lời khai các người làm chứng M1, N1, L cùng là hụi viên tham gia các dây hụi chung với bà N do bà M1 làm chủ, thấy bà M1 có nhắn tin trên nhóm nhắc bà N không đóng tiền hụi. Từ đó, có cơ sở xác định bà N có tham gia 02 dây hụi: Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần, hụi khui lần đầu vào ngày 23/6/2022 (nhằm ngày 25/5/2022 âm lịch), kết thúc vào ngày 06/01/2024 (nhằm ngày 25/11/2023 âm lịch) và dây hụi 500.000 đồng/tuần, gồm 26 phần, hụi khui lần đầu vào ngày 09/02/2023 (nhầm ngày 19/01/2023 âm lịch), kết thúc vào ngày 03/8/2023 (nhầm ngày 17/6/2023 âm lịch) do bà M1 làm chủ hụi. Xét thấy, giao dịch dân sự góp hụi giữa bà M1 với bà N được giao kết trên tinh thần tự nguyện, do bà N vi phạm nghĩa vụ góp hụi sau khi đã hốt xong đối với 02 dây hụi mình tham gia, điều đó làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bà M1. Cho nên, bà M1 khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền hụi chưa đóng 29.500.000 đồng là có căn cứ.

Đối với việc bà M1 rút lại yêu cầu bà N trả tiền vay 5.000.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định pháp luật, nên cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút.

Căn cứ Điều 244 BL TTDS năm 2015, Điều 471 BLDS năm 2015, các Điều 18, 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, về họ, hụi, biêu, phường: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà M1 đối với yêu cầu bà N trả số tiền vay; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M1 về yêu cầu bà N trả số tiền nợ hụi là 29.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Hoàng M khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Thùy N trả nợ hụi và tiền vay. Bà N cư trú trên địa bàn thành phố C nên yêu cầu khởi kiện của bà M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hoàng M có đơn yêu cầu vắng mặt phiên tòa; bị đơn bà Huỳnh Thị Thùy N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b

4

khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị Hoàng M và bà Huỳnh Thị Thùy N.

* Về nội dung:

[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng về hụi:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hoàng M cho rằng, bà Huỳnh Thị Thùy N có tham gia 02 dây hụi do bà M làm chủ gồm: dây hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 23/6/2022 (nhằm ngày 25/5/2022 âm lịch), bà N tham gia 01 phần; dây hụi 500.000đồng/tuần, mở ngày 09/02/2023 (nhằm ngày 19/01/2023 âm lịch), bà N tham gia 01 phần. Đến thời điểm ngưng 02 dây hụi, bà N nợ bà M tổng số tiền hụi 29.500.000đồng.

M cung cấp các tờ giấy ghi danh sach hụi viên và lời khai của những người hụi viên Nguyễn Thị L, Trần Trang Tuyết N1, Nguyễn Thanh M1 tham gia trong dây hụi của bà N và các tin nhắn trong nhóm tham gia chơi hụi do bà M1 làm chủ. Vì vậy, có cơ sở xác định bà N có tham gia 02 dây hụi đang tranh chấp do bà M1 làm chủ.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện, bà M1 yêu cầu bà N trả số tiền nợ hụi còn thiếu của 02 dây hụi là 29.500.000 (Hai mươi chín triệu, năm trăm nghìn) đồng, cụ thể: dây hụi 2.000.000 đồng/tháng là 10 kì x 2.000.000 đồng = 20.000.000 đồng, dây hụi 500.000 đồng/tuần là 19 kì x 500.000 đồng = 9.500.000 đồng. Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với lời khai của những người làm chứng Nguyễn Thị L, Trần Trang Tuyết N1, Nguyễn Thanh M1 tham gia cùng dây hụi với bà N đều xác định M1 có nhắc việc bà N không chầu hụi và biết việc N không đóng hụi cho M1 đã lâu và phù hợp với các chứng cứ khác như tin nhắn trên zalo.... Việc giao dịch góp hụi giữa các bên trên tinh thần tự nguyện, N tham gia chơi hụi nhưng không chầu đúng theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của hụi viên. Do đó, việc bà M1 yêu cầu bà N trả số nợ hụi còn thiếu của 02 dây hụi là 29.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Quá trình chuẩn bị xét xử, bà Huỳnh Thị Hoàng M rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối số tiền vay 5.000.000 (năm triệu) đồng với bà N, chỉ yêu cầu bà Huỳnh Thị Thùy N trả số nợ hụi còn thiếu của 02 dây hụi tổng cộng là 29.500.000 đồng. Cho nên, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà bà M đã rút theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về tranh chấp hợp đồng về hụi, buộc bà N có trách nhiệm trả cho bà M số tiền nợ hụi là 29.500.000 đồng theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

Do bà M không yêu cầu trả lãi chậm thanh toán, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

5

Huỳnh Thị Thùy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho bà M là 1.475.000đồng.

M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho bà M số tiền tạm ứng án phí 737.500đồng mà bà M đã nộp.

Do đình chỉ đối với yêu cầu rút lại yêu cầu kiện tiền vay của bà M nên bà M được nhận lại số tiền 300.00 đồng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 147, 244 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hoàng M về việc yêu cầu bà Huỳnh Thị Thùy N trả số tiền vay 5.000.000đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hoàng M.

    Buộc bà Huỳnh Thị Thùy N có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Hoàng M số nợ hụi 29.500.000 (hai mươi chín triệu, năm trăm nghìn) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

    Huỳnh Thị Thùy N phải chịu 1.475.000 (một triệu,bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Huỳnh Thị Hoàng M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà M số tiền tạm ứng án phí 737.500 (bảy trăm ba mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng mà bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003510 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cấp ngày 10 tháng 10 năm 2023 và số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003509 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cấp ngày 10 tháng 10 năm 2023.

6

Huỳnh Thị Hoàng M và bà Huỳnh Thị Thùy N có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi, vay tài sản

  • Số bản án: 18/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DS Mai - Nhung (hụi)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger