Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-ST

Ngày: 07/5/2024

Về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú, bà Hoàng Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/4/2024 và 07/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 151/2023/TLST-DS ngày 01/11/2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-DS ngày 13/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 05/4/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-DS ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng H1.

Địa chỉ trụ sở: Tòa N04 Hoàng Đạo T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc C- Chủ tịch HĐQT

Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Vũ Văn T- Giám đốc Ngân hàng H1 chi nhánh H2.

Người được ông T ủy quyền lại: Bà Nhữ Thị Y- Cán bộ phòng Tín dụng và Chăm sóc thành viên của Ngân hàng H1 chi nhánh H2.

Địa chỉ liên hệ: Số A N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988.

Địa chỉ cư trú: Thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Nơi làm việc: Trường tiểu học Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Khu H, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa có mặt bà Y, anh H (vắng mặt tại phiên tòa ngày 07/5/2024); vắng mặt ông K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày: Trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, anh Nguyễn Ngọc H và Ngân hàng H1 chi nhánh H2 (viết tắt: Ngân hàng) ký Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016 với các nội dung chính như sau: Ngân hàng cho anh H vay số tiền 150.000.000đ để sử dụng vào mục đích phục vụ đời sống; thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 06/4/2016 đến ngày 06/4/2021; lãi suất cho vay ban đầu là 1%/tháng; lãi quá hạn bằng 150% lãi vay trong hạn; nợ gốc và lãi được trả hàng tháng, mỗi tháng trả 2.500.000đ gốc + lãi kể từ tháng 5/2016. Ngoài ra các bên còn thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn, chuyển nợ quá hạn ... Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của anh H với Ngân hàng thì ông Nguyễn Ngọc K (bố đẻ của anh H) đã ký “Giấy cam kết” ngày 06/4/2016 có nội dung trong trường hợp anh H không trả nợ cho Ngân hàng thì ông K sẽ trả nợ hộ anh H.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng giải ngân cho anh H trực tiếp nhận đủ số tiền 150.000.000đ. Anh H đã trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 32.292.000đ, tiền lãi là 15.907.200đ và vi phạm nhiều kỳ trả nợ gốc, nợ lãi. Mặc dù Ngân hàng nhiều lần đôn đốc và hiện thời hạn vay theo thỏa thuận đã kết thúc nhưng anh H chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tổng số tiền anh H còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 14/6/2023 là 219.793.816đ. Vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Ngọc H, ông Nguyễn Ngọc K phải thanh toán cho Ngân hàng H1 tổng số tiền nợ tính đến ngày 14/6/2023 là 219.793.816đ gồm tiền nợ gốc = 117.708.000đ, tiền nợ lãi = 102.085.816đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 14/6/2023 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Ngày 04/4/2024, Ngân hàng có văn bản đề nghị Tòa án thay đổi tư cách tố tụng từ bị đơn sang người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với ông K.

Tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc H trình bày thống nhất với đại diện của nguyên đơn về quá trình xác lập, các nội dung của Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016 và số tiền vay Ngân hàng đã giải ngân cho anh. Anh là người vay tiền và sử dụng tiền vay. Tại mục “Bên B” (bên vay tiền) của Hợp đồng tín dụng đã ký có chữ ký của ông Nguyễn Ngọc K nhưng ông K không phải là người vay tiền và không được sử dụng tiền vay. Việc ông K vào hợp đồng tín dụng là để bảo lãnh cho nghĩa vụ trả nợ của anh với Ngân hàng. Cụ thể trường hợp anh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông K sẽ thay anh trả nợ cho Ngân hàng. Anh xác nhận tổng số tiền còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 14/6/2023 là 219.793.816đ gồm tiền nợ gốc = 117.708.000đ, tiền nợ lãi = 102.085.816đ. Hiện điều kiện kinh tế khó khăn nên anh đề nghị được trả nợ tiền gốc mỗi tháng từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ và đề nghị được miễn toàn bộ tiền lãi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông không được anh H trao đổi về việc vay vốn Ngân hàng. Chữ ký, chữ viết “Ky”, “Nguyễn Ngọc K” tại Hợp đồng tín dụng ngày 06/4/2016 và các tài liệu do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án đúng là chữ ký, chữ viết của ông. Nguyên nhân ông ký các giấy tờ đó là do vợ ông cùng anh H đưa ông đến tại Ngân hàng H1 chi nhánh H2 và bảo ông ký vào các giấy tờ do Ngân hàng chuẩn bị sẵn. Nội dung “Giấy cam kết” ngày 06/4/2016 là do chính tay ông viết theo hướng dẫn của cán bộ Ngân hàng. Sau khi ký xong giấy tờ thì ông đi về ngay và thực tế ông không được sử dụng tiền vay. Ông xác định anh H là người thực hiện thủ tục vay tiền, nhận tiền vay và sử dụng tiền vay nên anh H phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Ông không chấp nhận trả nợ thay anh H.

Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn yêu cầu anh H phải thanh toán tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 07/5/2024 là 246.808.676đ (gồm nợ gốc = 117.708.000đ; nợ lãi 129.100.676đ) và giữ nguyên yêu cầu được thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 08/5/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu Tòa án buộc ông K phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là thay anh H trả nợ cho Ngân hàng. Anh H nhất trí số tiền còn nợ theo trình bày của đại diện nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh H phải thanh toán cho Ngân hàng H1 tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 07/5/2024 là 246.808.676đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 08/5/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016. Trường hợp anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông K phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là thay anh H trả nợ cho Ngân hàng. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, các đương sự thống nhất xác định ông Nguyễn Ngọc K không phải là người vay tiền, không trực tiếp nhận và sử dụng tiền vay. Ông K tham gia ký Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016 và các giấy tờ khác trong hồ sơ vay vốn để bảo lãnh cho nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn Ngọc H. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu anh H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ và đề nghị Tòa án xác định lại tư cách tham gia tố tụng của ông K. Vì vậy hội đồng xét xử xác định tư cách tố tụng của ông K trong vụ án này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1.2] Ông K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Ngày 26/4/2024, trên cơ sở đề nghị của đại diện nguyên đơn và bị đơn, Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các đương sự hòa giải với nhau và đã tống đạt hợp lệ các văn bản thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 07/5/2024, anh H và ông K vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh H, ông K.

[1.3] Tuy bị đơn có địa chỉ cư trú và làm việc tại huyện C, tỉnh Hải Dương nhưng đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng và các bên đã tự nguyện thỏa thuận tại khoản 3 Điều 7 Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016: “Khi xảy ra tranh chấp mà hai bên không thương lượng được thì sẽ đề nghị Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền nơi bên A đặt trụ sở xét xử”. Tại phần đầu hợp đồng tín dụng nói trên có ghi: “Bên cho vay (gọi tắt Bên A): Ngân hàng H3 chi nhánh H2”. Đối chiếu tài liệu do nguyên đơn cung cấp xác định Ngân hàng H1 chi nhánh H2 hiện có trụ sở tại thành phố H, tỉnh Hải Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

[1.4] Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ với tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 07/5/2024 là 246.808.676đ và yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là thay đổi yêu cầu khởi kiện. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.

[2] Về áp dụng pháp luật: Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD và “Giấy cam kết” đều được xác lập ngày 06/4/2016 là thời điểm Bộ luật dân sự 2005 đang có hiệu lực pháp luật. Hiện các bên tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các văn bản trên nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết.

[3] Về số tiền nợ chưa thanh toán:

[3.1] Xét Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bên tham gia đều có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng; nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy hợp đồng tín dụng đã ký là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia.

[3.2] Trình bày của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu do nguyên đơn cung cấp nên có căn cứ xác định Ngân hàng H1 chi nhánh H2 đã giải ngân cho anh Nguyễn Ngọc H số tiền vay 150.000.000đ. Anh H đã thanh toán được số tiền nợ gốc 32.292.000đ. Số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 117.708.000đ. Anh H đề nghị được trả nợ từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ/tháng cho đến khi trả hết nợ gốc nhưng nguyên đơn không chấp nhận. Hai bên cũng không ký văn bản nào xác định lại các kỳ trả nợ, thời hạn trả nợ. Vì vậy cần buộc anh H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số nợ gốc là 117.708.000đ.

[3.3] Các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng lãi suất cho vay ban đầu là 1%/tháng; lãi quá hạn bằng 150% lãi vay trong hạn; tiền gốc và tiền lãi được trả định kỳ hàng tháng. Tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng nhiều lần điều chỉnh lãi vay trong hạn đối với khoản vay của anh H. Anh hữu vi phạm nhiều kỳ trả nợ gốc và lãi. Căn cứ thỏa thuận tại khoản 3 Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số dư nợ gốc sang nợ quá hạn từ ngày 25/12/2019 và áp dụng lãi suất quá hạn đối với phần dư nợ gốc không trả đúng hạn, áp dụng lãi suất trong hạn đối với phần dư nợ gốc chưa đến kỳ hạn trả nợ. Tổng số tiền lãi tính đến hết ngày 07/5/2024 là 145.007.876đ. Anh H đã thanh toán được số tiền lãi trong hạn là 15.907.200đ. Vì vậy số tiền lãi anh H chưa thanh toán cho Ngân hàng là 129.100.676đ gồm lãi trong hạn = 33.816.555đ, lãi quá hạn = 95.284.121đ. Anh H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 08/5/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.

[4] Về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Nguyên đơn và bị đơn đều xác định ông Nguyễn Ngọc K là người bảo lãnh cho nghĩa vụ trả nợ của anh H với Ngân hàng, phù hợp nội dung do chính ông K viết tại “Giấy cam kết” ngày 06/4/2016: “con tôi cam kết sẽ trả nợ theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng H3 chi nhánh H4, nếu không tôi sẽ đứng ra trả nợ cho con trai tôi”. Thời điểm viết giấy cam kết, ông K là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên buộc ông phải biết về những nội dung ông đã viết và cam kết với Ngân hàng. Điều 361 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Sau ngày 06/4/2016 đến nay, các bên không thỏa thuận, không xác lập văn bản nào có nội dung hủy bỏ việc bảo lãnh của ông K hoặc thay thế việc bảo lãnh của ông K bằng biện pháp bảo đảm khác. Vì vậy nếu anh H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông K phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là thay anh H trả nợ cho cho Ngân hàng.

[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 121, 122, 361, 362, 363 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1.

  1. Buộc anh Nguyễn Ngọc H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng H1 tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 07/5/2024 là 246.808.676đ (hai trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm linh tám nghìn sáu trăm bẩy mươi sáu đồng) gồm nợ gốc = 117.708.000đ, nợ lãi trong hạn = 33.816.555đ, nợ lãi quá hạn = 95.284.121đ.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Ngọc H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 115/HĐTD ngày 06/4/2016.

  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng H1 có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Nguyễn Ngọc H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Nguyễn Ngọc K phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là thay anh H trả nợ cho Ngân hàng H1.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc H phải chịu 12.340.000đ (mười hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Hoàn trả Ngân hàng H1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.495.000đ (năm triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000675 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

  6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
  7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn phòng Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 18/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger