|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày: 16/11/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lự
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bàn Như Quỳnh – Phó Hiệu trưởng trường THPT Đà Bắc
- Bà Phùng Hòa Hiệp – Phó bí thư Huyện đoàn Đà Bắc
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tùng Trúc, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc tham gia phiên tòa: Ông Lường Tiến Long, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên Tòa số 03/2023/QÐST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Xa Văn Đ Giới tính: Nam
- Họ và tên: Hà Văn T Giới tính: Nam
- Họ và tên: Xa Anh T2 Giới tính: Nam
- Họ và tên: Lê Nguyễn Quang H1 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: không. Sinh ngày 16 tháng 6 năm 2005 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Nơi ĐKHKTT & chỗ ở: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày Tôn giáo: Không
SỐ CCCD: [...]. Cấp ngày 12/7/2022, tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nghề nghiệp: lao động tự do Trình độ học vấn: 9/12
Con ông Xa Văn Đ1, sinh năm 1981 và bà Hà Thị H, sinh năm 1983;
Cùng trú tại: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình. Vợ con chưa có
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến 27/9/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa;
Tên gọi khác: không. Sinh ngày 19 tháng 2 năm 2004 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Nơi ĐKHKTT & chỗ ở: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày Tôn giáo: Không
SỐ CCCD: [...]. Cấp ngày 28/9/2021, tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nghề nghiệp: lao động tự do Trình độ học vấn: 12/12
Con ông Hà Văn T1, sinh năm 1981 và bà Lường Thị C, sinh năm 1983;
Cùng trú tại: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình.
Vợ con: chưa có;
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa;
Tên gọi khác: không. Sinh ngày 02 tháng 01 năm 2007 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Nơi ĐKHKTT & chỗ ở: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày Tôn giáo: Không
SỐ CCCD: [...]. Cấp ngày 24/9/2021, tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nghề nghiệp: học sinh Trình độ học vấn: 10/12
Con ông Xa Văn T3 – đã chết và bà Hà Thị Đ2, sinh năm 1981;
Cùng trú tại: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.
Vợ con: Chưa có;
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa;
Tên gọi khác: không. Sinh ngày 04 tháng 11 năm 2006 tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ĐKHKTT & chỗ ở: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường Tôn giáo: Không
SỐ CCCD: [...]. Cấp ngày 10/5/2021, tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nghề nghiệp: lao động tự do Trình độ học vấn: 9/12
Con ông Lê Văn H2, sinh năm 1981, trú tại xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình và bà Nguyễn Hoài T4, sinh năm 1983; trú tại: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình.
Vợ con: chưa có;
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa;
*Bị hại:
- Hà Anh N. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt
- Đinh Hồng P cùng người đại diện là Đinh Hồng Đ3 – Ông nội của bị hại, sinh năm 1957, trú tại: tiểu khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt;
Người đại diện là Hà Thị T5 – Mẹ đẻ của bị hại, sinh năm 1977, trú tại: tiểu khu M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hà Quốc K cùng người đại diện là Xa Thị H3 – mẹ đẻ, trú tại: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;
- Trần Anh T6 cùng người đại diện là Lường Thị Đ4 – mẹ đẻ, sinh năm 1987, trú tại: xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;
- Lường Hoàng V cùng người đại diện là Lường Văn T7 – bố đẻ, sinh năm 1993, trú tại: xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;
* Người bào chữa cho các bị cáo:
- Bà Nguyễn Thị Thu T8 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; Là người bào chữa cho bị cáo: Hà Văn T. Vắng mặt;
- Bà Đinh Thị Q – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; Là người bào chữa cho các bị cáo: Xa Văn Đ, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1. Có mặt
* Người đại diện của các bị cáo:
- Ông Xa Văn Đ1, sinh năm 1981 – Bố đẻ của bị cáo Xa Văn Đ, trú tại: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
- Chị Xa Thị Kim T9, sinh năm 2000 – chị gái của bị cáo Xa Anh T2, trú tại: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Ông Lê Văn H2, sinh năm 1981 – Bố đẻ của bị cáo Nguyễn Quang H4, trú tại: xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
* Những người tham gia tố tụng khác:
- - Đại diện Đoàn thanh niên xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình: anh Lường Văn H5 – Bí thư Đoàn xã T. Có mặt
- - Đại diện Đoàn Thanh niên xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/01/2023 H – sinh ngày 02/9/2008, Xa Anh T2 – sinh ngày 02/01/2007 cùng trú tại xóm D, xã T và Trần Anh T6 – sinh ngày 23/7/2007 trú tại xóm M, xã T đều là bạn bè, quen biết với nhau cùng dự sinh nhật Nguyễn Thảo L – sinh năm 2007 trú tại xóm C, xã T, huyện Đ. Lúc ngồi uống rượu sinh nhật K thấy có anh Đinh Hồng P – sinh năm 2005 trú tại TK L, TT Đ, huyện Đ và anh Hà Anh N – sinh năm 2005 trú tại TK M, TT Đ, huyện Đ. Do nghĩ N là người yêu của Hà Thảo V1 – SN 2007 trú tại xóm C, xã T (V là người yêu cũ của K) nên K nảy sinh ý định muốn đánh N và P. K nói ý định của mình với Xa Anh T2 thì T2 đồng ý. K còn nhắn tin qua ứng dụng Mesenger rủ Hà Văn T – sinh ngày 19/02/2004 cùng trú tại xóm D, xã T rủ đi đánh nhau thì T đồng ý nên K dặn Lường Gia B – sinh năm 2009 trú tại xóm C, xã T là khi nào thấy T đến phía ngoài nhà L thì gọi K ra gặp.
Hà Văn T điều khiển xe môtô mang BKS 28D1-135.27 của Tuyền đến quán B2-a của anh Hà Văn N1 tại xóm D, xã T thì gặp và rủ Xa Văn Đ – sinh ngày 16/6/2005 trú tại xóm D, xã T cùng đi đến nhà L. Đ điều khiển xe môtô mang BKS 19K1-413.91 của gia đình đi sau T đến khu vực cổng nhà L. Khi B thấy T đến thì vào trong nhà L gọi K ra gặp T. K nói với T “tí anh đánh hai thằng kia cùng em nhớ” thì T9 nói “ừ, tí rồi xem”, lúc này Đ đứng ở xa nên không nghe được việc K rủ T đánh nhau. Sau đó, T nói với Đ “ra cầu chặn đánh mấy thằng Tu Ll” thì Đ trả lời “đi thì đi” rồi cả hai điều khiển xe ra khu vực cầu S. Tại đây T và Đ thấy có một số thanh niên trong xã cũng đang đứng chơi trên cầu trong đó có Lê Nguyễn Quang H1 – sinh ngày 04/11/2006 trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Lường Hoàng V2 – sinh ngày 14/5/2011 trú tại xóm M, xã T. T nói với Đ “K bảo muốn đánh hai thằng trong sinh nhật con L ấy” nên Lê Nguyễn Quang H1 nghe thấy và muốn tham gia đánh nhau. Chờ ở cầu S một lúc thì T và Đ lại điều khiển xe đi đến khu vực cổng nhà L, H1 cũng điều khiển xe môtô 28D1-123.61 của gia đình Lường Hoàng V2 chở V2 đi theo. Tại khu vực gần cổng nhà L, T, Đ, H1, V2 gặp K, T2 và T6 đi từ trong sinh nhật ra. K nói bằng tiếng dân tộc Tày với nội dung “hai thằng kia to quá em không đánh được, bọn anh đánh giúp em với” “như nào có đánh không”
thì T nói “phải cũng đánh, không phải cũng đánh”, T2 nói “đánh thì đánh”. Lê Nguyễn Quang H1 không hiểu tiếng dân tộc Tày thì được T6 nói cho bằng tiếng dân tộc Kinh là “tí chờ bọn nó về rồi chặn đánh” rồi T6 ngồi lên xe môtô do H1 điều khiển.
Khi thấy N, P điều khiển xe môtô rời khỏi nhà L đi về theo hướng tỉnh lộ 433 K có nói “Chúng nó ra rồi kìa” thì Đ nói “Đi đi” rồi Đ điều khiển xe chở theo K đuổi theo đầu tiên, T chở T2 đi một xe, H1 chở theo V2, T6 đi theo sau. Trên dường đuổi theo N, P thì K có hỏi Đ “Anh ơi có đánh được không” thì Đ trả lời “Xem đã, có người thì đánh” “Sợ gì cứ đánh thử xem, lát rồi tính”. Khi qua cầu S khoảng 500 mét, là đoạn đường vắng không có nhà dân hai bên đường thì Đ điều khiển xe đi ngang song song với xe môtô mang BKS 28D1-113.13 của N, P rồi xảy ra va chạm nên xe của Đ, K bị đổ. Thấy vậy, xe của N cũng dừng lại rồi P xuống xe bật đèn flash điện thoại rồi đi bộ quay lại chỗ Đ và K hỏi “có làm sao không”. Đ dựng xe môtô bị đổ thì thấy cốp xe bị bung ra và phát hiện 01 chiếc tuavit có tổng chiều dài 14cm, phần chuôi bằng nhựa màu đen dài 8,2cm trong cốp xe rơi trên mặt đất. Đ dựng xe xong thì nhặt tuavit bằng tay trái, lúc này xe của T và T2 đã đến nên cả hai nhìn thấy việc Đ cầm tuavit trên tay. Khi xe của H1 điều khiển đến nơi thì K nói “anh đánh thằng này cho em” thì T6 nhảy từ xe rồi chửi bới và chạy về phía P dùng tay đấm nhiều phát vào vùng mặt của P. Thấy thế, K cùng Đ cũng xông vào đánh P, K dùng chân đá hai phát vào người P còn Đ dùng tay phải (không cầm tuavit) đấm hai phát vào đầu P. P bị đánh thì dùng hai tay ôm đầu và lùi lại, đèn flash trên tay vẫn bật sáng. K thấy N đang ngồi trên xe mô tô thì chạy đến dùng chân phải đạp đổ xe môtô rồi cùng với T6 dùng chân tay đánh N. Đ đưa tuavit từ tay trái sang tay phải, phần mũi kim loại tuavit hướng ra ngoài từ phía ngón tay cái, tiến đến dùng tay phải đâm ngang tuavit hơi chếch từ dưới lên trên, từ phải qua trái, nhiều nhát vào vùng mặt của N. T6 thấy P vẫn cầm điện thoại bật flash soi về phía N đang bị đánh thì T6 đã dùng tay giật lấy điện thoại rồi đập xuống đường làm hư hỏng điện thoại của P. Sau đó không ai tiếp tục đánh P và N nữa, nhóm của K đi về nhà. Xe mô tô của N sau khi bị K đạp đổ bị hư hỏng phần nhựa và hỏng đèn chiếu sáng nên Nguyên P1 quay lại nhà L, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện.
Tại Bản kết luận giám định số 65/TgT ngày 28/02/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh H kết luận Hà Anh N bị:
“III. PHẦN GIÁM ĐỊNH:
2. Thương tích:
- - Cánh mũi trái có vết sẹo kích thước 1,5cm x 0,3cm.
- - Gò má đuôi mắt trái có vết sẹo kích thước 05cm x 0,3cm.
- - Má bên trái có vết biến đổi sắc tố da kích thước 1,2cm x 0,2cm.
- - Môi trên bên trái có vết biến đổi sắc tố da kích thước 0,4cm x 0,3cm.
- - Cách mép môi bên trái 02cm có vết biến đổi sắc tố da kích thước 0,8cm x 0,3cm.
- - Niêm mạc môi dưới có vết sẹo kích thước 1,2cm x 0,2cm.
- - Dưới môi dưới có vết sẹo kích thước 2,5cm x 0,2cm.
- - Cằm bên phải có vết sẹo kích thước 3,8cm x 0,3cm.
- - Vùng dưới cằm có 03 vết sẹo:
- + Vết thứ nhất kích thước 1,8cm x 0,3cm.
- + Vết thứ hai lệch về bên trái kích thước 1,5cm x 0,2cm.
- + Vết thứ ba cách vết thứ hai 0,7cm kích thước 1,5cm x 0,2cm.
- - Các bộ phận khác không có dấu vết của thương tích.
IV. PHẦN KẾT LUẬN:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Các vết sẹo, vết biến đổi sắc tố da vùng mặt.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26% (Hai mươi sáu phần trăm).
3. Đặc điểm vật gây thương tích: Vật có góc cạnh”
Tại Bản kết luận giám định số 54/TgT ngày 28/02/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh H kết luận Đinh Hồng P bị:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Vết sẹo cung lông mày trái.
- - Vết sẹo niêm mạc môi dưới bên trái.
- - Vết sẹo cổ tay trái.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 5% (Năm phần trăm).
3. Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:
“Các chi tiết, phụ tùng bị hư hỏng của xe môtô HONDA Blade màu đen, biển số 28D1-113.13 ...Tổng giá trị là: 680.000 đồng
Các chi tiết điện tử bị hư hỏng của điện thoại IPHONE 7 Plus màu vàng gold... Tổng giá trị là: 1.228.000 đồng”.
Tại bản kết luận giám định số 347/KL-KTHS ngày 06/8/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:
“Không khôi phục và trích xuất được tin nhắn M facebook có tên tài khoản “Hà Quốc K” ngày 14/01/2023 đến ngày 15/01/2023”.
Ngày 15/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án; ngày 15/5/2023 khởi tố bị cáo đối với Xa Văn Đ về hành vi gây thương tích 26% đối với Hà Anh N; ngày 14/6/2023 khởi tố bị cáo đối với Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 về hành vi gây thương tích đối với Hà Anh N với vai trò đồng phạm.
Cáo trạng số 17/CT-VKSĐB ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc truy tố các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo nêu trên về tội danh, điều luật đã viện dẫn như trong nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 65, Điều 91 Bộ luật hình sự
Xử phạt các bị cáo:
- - Xa Văn Đ từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
- - Xa Anh T2 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng.
- - Lê Nguyễn Q1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo:
- - Hà Văn T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng
Về xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật;
Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa, ông Xa Văn Đ1 – người đại diện của bị cáo Xa Văn Đ có yêu cầu gia đình của các bị cáo Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 hoàn lại số tiền mà ông Đ1 đã ứng ra trước để bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa, anh Xa Văn Đ1 đã rút yêu cầu này.
Tại phiên tòa, chị Xa Thị H3 – người đại diện của cháu Hà Quốc K có yêu cầu gia đình của các bị cáo Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 cùng gia đình cháu L2 Hoàng Vũ hoàn lại số tiền mà gia đình chị đã ứng ra trước để bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa, đại diện gia đình của các bị cáo không thống nhất được với nhau về vấn mức bồi thường này.
Đề nghị HĐXX tuyên quyền các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo không tham gia tranh luận;
Người đại diện hợp pháp của bị hại không tham gia tranh luận. Đề nghị HĐXX cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận
Trong phần tranh luận, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và không có lời tự bào chữa, đề nghị trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý:
Bà Đinh Thị Q – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H; Là người bào chữa cho các bị cáo: Xa Văn Đ, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 đồng ý với nội dung cáo trạng về tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo sau khi phạm tội đã tích cực bồi thường cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, khi phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành niên, là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX áp dụng các điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 91 BLHS xử phạt các bị cáo
- Bị cáo Xa Văn Đ 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng;
- Bị cáo Xa Anh T2 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng;
- Bị cáo Lê Nguyễn Quang H1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng;
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét hành vi và các Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về các hành vi và quyết định tố tụng đó. Do vậy hành vi và quyết định tố tụng trên là hợp pháp.
Các bị hại trong vụ án đều có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của bị hại không làm cản trở đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
Bà Nguyễn Thị Thu T8 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; Là người bào chữa cho bị cáo: Hà Văn T vắng mặt, tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Hà Văn T vẫn đề nghị HĐXX xét xử vụ án vắng mặt người bào chữa này, sự vắng mặt của người bào chữa không làm cản trở đến việc xét xử nên căn cứ Điều 291 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T.
Về sự vắng mặt của Đại diện Đoàn thanh niên xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Tòa án đã gửi các quyết định tố tụng, triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng Đại diện Đoàn thanh niên xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 8, Thông tư 02/2018/TT-TANDTC, ngày 21 tháng 09 năm 2018 Hội đồng xét xử xét tiến hành xét xử vắng mặt Đoàn đại diện Đoàn thanh niên T10, huyện T, tỉnh Phú Thọ
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng:
Trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với hành vi khách quan của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, hậu quả đã gây ra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 ngày 14/01/2023, tại khu vực cầu S thuộc địa bàn xã T, huyện Đ, xuất phát từ sự rủ rê của Hà Quốc K, Hà Văn T, Trần Anh T6 mà nhóm K, T, T6, Đ, T2, H1 đã cùng bàn bạc thống nhất ý chí về việc đánh gây thương tích đối với Hà Anh N và Đinh Hồng P. Nhóm này đã có hành vi dùng dùng xe mô tô đuổi, ép xe của N và P, khi đã đầy đủ thành viên trong nhóm và có sự ủng hộ về tinh thần của T, T2, H1 thì T6, K đã thực hiện hành vi dùng tay, chân đấm, đá, vào vùng mặt của Hà A Nguyên và Đinh Hồng P, và Xa Văn Đ đã dùng dùng tay đấm vào vùng mặt của bị hại phúc, dùng tuavit dâm vào vùng mặt của bị hại N.
Các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2, Lê Nguyễn Quang H1 không có mâu thuẫn với các bị hại mà vô cớ đánh gây thương tích, bị cáo Xa Văn Đ sử dụng hung khí nguy hiểm là chiếc tuavit đánh bị hại, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm và gây tổn hại đến sức khỏe của bị hại. Hành vi của các bị cáo “có tính chất côn đồ” và “sử dụng hung khí nguy hiểm” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự gây thương tích 26% cho Hà A Nguyên và 5% cho Đinh Hồng P đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc truy tố các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của các bị hại, đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 đều là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức còn hạn chế. Do đó, coi đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Xa Văn Đ, Xa Anh T2, Lê Nguyễn Quang H1 đều là người chưa thành niên nhận thức còn chưa đầy đủ. Do đó, coi đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[4] Về quyết định hình phạt:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm minh, có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra:
Các bị cáo Xa Văn Đ, Xa Anh T2, Lê Nguyễn Quang H1 đều là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Do đó, việc áp dụng các quy định tại Chương XII của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ được hành vi vi phạm pháp luật của mình. Xuất phát từ sự rủ rê của Hà Quốc K, Hà Văn T, Trần Anh T6 mà nhóm K, T, T6, Đ, T2, H1 đã cùng bàn bạc thống nhất ý chí về việc đánh gây thương tích đối với Hà Anh N và Đinh Hồng P. Sau khi xảy ra va chạm xe tại xóm M, xã T, khi cả nhóm đã đến đông đủ, có sự ủng hộ về tinh thần nhất định và Trần Anh T6 đã xông vào đánh P trước thì Đ, K mới thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích đối với Đinh Hồng P. Các bị cáo tuy có bàn bạc, thống nhất ý chí gây thương tính cho bị hại, nhưng không có sự phân công nhiệm vụ, chuẩn bị công cụ phương tiện từ trước nên xác định là trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Xa Văn Đ có vai trò là người thực hành tích cực, các bị cáo Hà Văn T, Xa Anh T2, Lê Nguyễn Quang H1 là người đồng phạm với vai trò giúp sức, ủng hộ về tinh thần cho Đ cùng với Trần Anh T6 và Hà Quốc K đánh gây thương tích cho các bị hại và bỏ mặc hậu quả xảy ra nên phải chịu chung trách nhiệm hình sự tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xác định vai trò của từng bị cáo như sau:
- - Bị cáo Xa Văn Đ bàn bạc, thống nhất ý chí gây thương tích, trực tiếp điều khiển xe đuổi theo đầu tiên, chủ động điều khiển xe át sát và va chạm với xe của bị hại, trực tiếp đánh gây thương tích cho N và P, trong đó sử dụng chiếc tuavit tổng chiều dài 14cm mũi bằng kim loại có góc cạnh đánh nhiều nhát trúng vùng mặt gây thương tích là 08 vết sẹo vùng cằm phải, gò má trái, má trái, cánh mũi trái của Hà Anh N. Do đó Bị cáo Xa Văn Đ có vai trò thực hành tích cực, là bị cáo chính trong vụ án nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
- - Bị cáo Hà Văn T là người không có mặt tại sinh nhật Nguyễn Thảo L nhưng khi được Hà Quốc K nhắn tin rủ tham gia đánh nhau thì đã điều khiển xe đến tham gia. Bị cáo nắm được động cơ, mục đích của Hà Quốc K thì đã chủ động ra cầu S chờ đợi và tại đó đã rủ Xa Văn Đ tham gia đánh nhau. Khi cả nhóm đứng ở khu vực cổng nhà L thì bị cáo T là người trên 18 tuổi duy nhất của cả nhóm đã tham gia bàn bạc, thống nhất ý chí và nói “phải cũng đánh, không phải cũng đánh” thể hiện sự ủng hộ về tinh thần đối với các bị cáo và người liên quan khác trong việc tham gia đánh nhau. Bị cáo điều khiển xe đuổi theo đến hiện trường ngay sau bị cáo Đ và không đánh các bị hại do các bị hại không phản kháng, khi thấy bị cáo Đ dùng hung khí đánh bị hại N đã không can ngăn và sau đó bỏ mặc hậu quả xảy ra thể hiện ý chí mong muốn hậu quả xảy ra đối với thương tích của bị hại. Do đó, bị cáo Hà Văn T có vai trò đồng phạm là người giúp sức, là bị cáo có vai trò tiếp theo sau bị cáo Xa Văn Đ.
- - Bị cáo Xa Anh T2 có mặt tại sinh nhật Nguyễn Thảo L và là người đầu tiên đồng ý với Hà Quốc K về việc tham gia đánh nhau. Khi cả nhóm bàn bạc thống nhất, bị cáo T2 nói “đánh thì đánh” đã thể hiện rõ mục đích cố ý gây thương tích của mình. Bị cáo đã ngồi trên xe do bị cáo Hà Văn T điều khiển đi đến hiện trường cùng với những người khác tạo sự ủng hộ về tinh thần cho Đ, K, T6 trực tiếp đánh gây thương tích cho các bị hại. Do đó bị cáo Xa Anh T2 có vai trò đồng phạm là người giúp sức trong vụ án.
- - Bị cáo Lê Nguyễn Quang H1 tuy chỉ nghe Hà Văn T rủ Xa Văn Đ nhưng cũng nảy sinh ý định tham gia đánh nhau nên điều khiển xe đi theo T và Đ. Khi cả Đ, T, T2, K, T6 bàn bạc, thống nhất bằng tiếng dân tộc Tày thì H1 không hiểu nhưng được Trần Anh T6 nói cho biết là “tí chờ bọn nó về rồi chặn đánh” nên H1 đã điều khiển xe chở T6, V2 đi theo xe của Đ và T. Bị cáo có mặt tại hiện trường cũng tạo sự ủng hộ về tinh thần cho Đ, T6, K trực tiếp đánh gây thương tích cho N và P. Do đó, bị cáo Lê Nguyễn Quang H1 có vai trò là người giúp sức trong vụ án.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt được áp dụng. Xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng cải tạo, giáo dục tại cộng đồng, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt các bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS, việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện được tinh thần nhân đạo và khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta. Như vậy, mức xử phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc đề nghị là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Quá trình điều tra xác định Hà Quốc K có vai trò khởi xướng, rủ các bị cáo khác tham gia đánh nhau, có hành vi trực tiếp gây thương tích cho N và P, đạp đổ gây hư hỏng xe môtô của N; Trần Anh T6 có hành vi trực tiếp gây thương tích cho N và P, đập hư hỏng điện thoại của P. Tuy nhiên thời điểm xảy ra vụ án Hà Quốc K mới 14 năm 4 tháng 12 ngày tuổi, Trần Anh T6 mới 15 năm 5 tháng 22 ngày tuổi đều chưa đủ tuổi chịu tránh nhiệm hình sự về tội nghiêm trọng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã căn cứ Điều 89, khoản 2 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ, nên không đề cập giải quyết trong vụ án.
Quá trình các bị cáo bàn bạc thống nhất ý chí về việc đánh gây thương tích cho N và P thì L2 Anh V2 ngồi trên xe mải chơi game trên điện thoại di động nên không biết việc các bị cáo khác bàn bạc, khi H1 chở V2 và T6 đi cũng không nói là đi đâu. Tại hiện trường Vũ quan sát thấy diễn biến vụ việc và đã khai báo thành khẩn trong giai đoạn điều tra. Thời điểm xảy ra vụ án mới 11 tuổi 8 tháng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm, nên không đề cập giải quyết trong vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Trong giai đoạn xác minh, điều tra các bị cáo đã tác động gia đình và người có liên quan đã bồi thường cho bị hại Hà A Nguyên số tiền 150.000.000đ; anh Hà Văn H6 là bố của Hà Quốc K tự nguyện thỏa thuận bồi thường 01 xe môtô HONDA Blade trị giá 21.200.000đ cho Hà Anh N. Hà Quốc K và gia đình đã bồi thường cho bị hại Đinh Hồng P số tiền 2.000.000đ; Trần Anh T6 và gia đình đã bồi thường cho Đinh Hồng P chiếc điện thoại di động.
Trước khi mở phiên tòa, ông Xa Văn Đ1 – người đại diện của bị cáo Xa Văn Đ có yêu cầu gia đình của các bị cáo Hà Văn t, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 hoàn lại số tiền mà ông Đ1 đã ứng ra trước để bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa, anh Xa Văn Đ1 đã rút yêu cầu này. Do đó, HĐXX không đề cập giải quyết trong bản án này.
Tại phiên tòa, chị Xa Thị H3 – người đại diện của cháu Hà Quốc K có yêu cầu gia đình của các bị cáo Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 cùng gia đình cháu L2 Hoàng Vũ hoàn lại số tiền mà gia đình chị đã ứng ra trước để bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa, đại diện gia đình của các bị cáo không thống nhất được với nhau về vấn mức bồi thường này. Yêu cầu của chị Xa Thị H3 là yêu cầu dân sự, tại phiên Tòa chị H3 chưa thể cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, đại diện các gia đình của các bị cáo có lời khai không thống nhất đối với yêu cầu về mức bồi thường thường thiệt hại này, HĐXX nhận thấy vấn đề dân sự này có thể tách ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự mà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự. Chính vì vậy, căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu theo quy định pháp luật. Do đó, HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[6] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tuavit tổng chiều dài khi 14cm; phần chuôi bằng nhựa màu đen dài 8,2cm; phần mũi kim loại có thể tháo rời khỏi chuôi có chiều dài 13,2cm thân trụ tròn đường kính 0,5cm, một đầu mũi dẹt 2 cạnh, một đầu mũi 4 cạnh đựng trong Phong bì niêm phong mép dán có dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ;
- - Trả lại 01 chiếc điện thoại IPHONE 7 Plus màu vàng gold. Số Model A1661 FCCID BCG - E3087A IC 579C - E3087A, tình trạng điện bị móp méo, không có mặt trước để lộ hở các chi tiết điện tử của điện thoại cho bị hại Đinh Hồng P.
- - Chiếu điện thoại IPHONE màu xám, Số model A1687 FCC ID: BCG-E2944 IC: 579C- E2944A, số Imei 355735074936172. Là chiếc điện thoại mà K nhắn tin rủ qua ứng dụng Mesenger rủ Hà Văn T tham gia gây thương tích cho các bị hại, tuy nhiên “Không khôi phục và trích xuất được tin nhắn M facebook có tên tài khoản “Hà Quốc K” ngày 14/01/2023 đến ngày 15/01/2023”. Do đó không xác định đây là vật chứng của vụ án, cần trả lại cho chủ sở hữu là Hà Quốc K.
- - Chiếc xe mô tô HONDA Wave A màu đen, bạc. Biển kiểm soát 19K1-413.91, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiều hậu, không kiểm tra chi tiết bên trong máy. Được xác định là chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của gia đình anh Xa Văn Đ1, sinh năm 1981, trú tại xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình là bố đẻ của Đ. Đ tự ý lấy xe mô tô của gia đình mà anh Đ1 không biết việc Đ sử dụng chiếc xe trên để đi tham gia gây thương tích cho bị hại. Do đó, cần trả lại chiếc xe trên cho anh Đ1 là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.
- - Chiếc xe mô tô HONDA Wave A màu đen, bạc. B1 kiểm soát 28D1-123.61, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu, không kiểm tra chi tiết bên trong máy. Được xác định là chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của gia đình anh Lường Văn T7, sinh năm 1993, trú tại xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình là bố đẻ của Lường Hoàng V2. V2 tự ý lấy xe mô tô của gia đình đi chơi, sau đó giao cho H1 điều khiển mà không biết việc H1 sử dụng chiếc xe trên để đi tham gia gây thương tích cho bị hại. Do đó, cần trả lại chiếc xe trên cho anh T7 là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo và người đại diện của các bị cáo, bị hại và người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 47, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65, Điều 91 Bộ luật hình sự;
Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh và hình phạt
Tuyên bố: Các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt:
- - Xa Văn Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- - Hà Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xa Anh T2 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp bị cáo Xa Văn Đ phải chấp hành hình phạt tù của Bản án này thì được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến 27/9/2023 vào thời gian chấp hành án.
- - Xử phạt Lê Nguyễn Quang H1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- - 01 chiếc tuavit tổng chiều dài khi 14cm; phần chuôi bằng nhựa màu đen dài 8,2cm; phần mũi kim loại có thể tháo rời khỏi chuôi có chiều dài 13,2cm thân trụ tròn đường kính 0,5cm, một đầu mũi dẹt 2 cạnh, một đầu mũi 4 cạnh đựng trong phong bì niêm phong mép dán có dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ.
Trả lại vật chứng gồm:
- - 01 (một) chiếc điện thoại IPHONE 7 Plus màu vàng gold. Số Model A1661 FCCID BCG - E3087A IC 579C - E3087A. Tình trạng điện bị móp méo, không có mặt trước để lộ hở các chi tiết điện tử của điện thoại, cho bị hại Đinh Hồng P;
- - 01 (một) điện thoại IPHONE màu xám, Số model A1687 FCC ID: BCG-E2944 IC: 579C- E2944A, số Imei 355735074936172, cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Quốc K;
- - Chiếc xe mô tô HONDA Wave A màu đen, bạc. B1 kiểm soát 19K1-413.91, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiều hậu, không kiểm tra chi tiết bên trong máy, cho anh Xa Văn Đ1, sinh năm 1981, trú tại xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- - Chiếc xe mô tô HONDA Wave A màu đen, bạc. B1 kiểm soát 28D1-123.61, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu, không kiểm tra chi tiết bên trong máy, cho anh Lường Văn T7, sinh năm 1993, trú tại xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc.
3. Về án phí:
Các bị cáo Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và người đại diện của các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người đại diện của họ vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án. Hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ được kháng cáo về phần của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bào chữa cho các bị cáo Xa Văn Đ, Xa Anh T2 và Lê Nguyễn Quang H1 được quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích cho các bị cáo này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Lự |
Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 18/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xa Văn Đ, Hà Văn T, Xa Anh T2, Lê Nguyễn Quang H1 cố ý gây thương tích
