Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

TỈNH QUẢNG BÌNH


Bản án số: 18 /2021/HNGĐ-ST

Ngày: 30 / 7 /2021

V/v: "Kiện xin ly hôn"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thúy Mai
  2. Bà Dương Thị Hồng Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Dương Đức Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Long – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 346/2020/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2020 về kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2021 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh B; sinh năm: 1980; Địa chỉ: Số 02 đường C, Tổ dân phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; Chị Trần Thị Thanh B có mặt.
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T; sinh năm: 1979; Địa chỉ: Số 02 đường C, Tổ dân phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; Anh Nguyễn Minh T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 11/12/2020, được bổ sung tại bản tự khai, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh T đăng ký kết hôn hợp pháp tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình vào ngày 03/3/2006, kết hôn trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị về sống chung tại số 02 đường C, Tổ dân phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Trong cuộc sống, vợ chồng luôn xảy ra bất đồng về quan điểm, lối sống, mâu thuẫn nặng nề vì không ai yêu thương ai, vợ chồng suốt ngày cãi vã. Anh T không chịu đi làm việc để kiếm tiền cùng vợ nuôi con cũng như lo cho cuộc sống gia đình chung. Mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do chị B lo liệu, chi trả. Anh không quan tâm gì đến vợ con. Vợ chồng đã sống ly thân hơn ba năm nay. Đến nay chị B không còn tình cảm với chồng nữa vì anh T không yêu thương, quan tâm mẹ con chị. Trước đây chị cũng đã từng nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng đến giờ thì anh T không thay đổi luôn thờ ơ để mặc không quan tâm gia đình, vợ con. Vì vậy, nguyện vọng của chị là xin được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống, công việc và nuôi con.

Về con chung: Chị B thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Phúc Đông N, sinh ngày 12/12/2008 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 09/5/2012. Hiện hai con đang sống cùng ba mẹ. Nguyện vọng của chị B sau khi ly hôn muốn được nuôi hai con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi hai con chung là 5.000.000 đồng/ tháng. Hai cháu Nguyễn Phúc Đông N và Nguyễn Bảo N đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ B nếu ba mẹ ly hôn.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung để vợ chồng chị tự thỏa thuận.

*Về bị đơn anh Nguyễn Minh T:

Tại bản tự khai ngày 02 tháng 6 năm 2021 anh T trình bày: Tôi và chị B có đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2006 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, kết hôn tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường không mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn về công việc ngoài ra không có bất đồng gì thêm. Nay chị B làm đơn ly hôn, tôi có nguyện vọng đoàn tụ để nuôi dạy con cái, nếu chị B cương quyết ly hôn thì tôi xem xét lại sau.

Về quan hệ con chung: anh T thừa nhận vợ chồng chung sống có 02 con chung gồm cháu Nguyễn Phúc Đông N, sinh ngày 12/12/2008 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 09/5/2012. Hiện hai cháu đang ở với cha mẹ, hiện tại tôi đang mong muốn đoàn tụ nên chưa bàn về việc con cái.

Về quan hệ tài sản chung: anh T khai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã tiến hành triệu tập các bên đương sự đến làm bản tự khai, gửi giấy triệu tập cho các bên đương sự, tiến hành ba phiên hòa giải. Anh T chỉ đến Tòa án làm bản tự khai nhưng không đến làm việc theo các giấy triệu tập phiên hòa giải của Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Anh T đã ký nhận trực tiếp các văn bản tố tụng. Bị đơn anh T không đến tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn nên kiên quyết xin được ly hôn. Về con chung chị B vẫn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dạy hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con vì chị cho rằng anh T không đi làm việc nên không có thu nhập nên chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị khai thu nhập trung bình tháng của chị ổn định khoảng trên 12 triệu đồng. Chị B trình bày đã lo liệu được nơi ăn chốn ở của chị và con tại thành phố Đồng Hới để đảm bảo việc học tập, sinh hoạt của các cháu được ổn định về mọi mặt. Về tài sản vợ chồng chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, HTND đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Căn cứ vào quá trình giải quyết vụ án, tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Trần Thị Thanh B được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Chị B được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Phúc Đông N, sinh ngày 12/12/2008 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 09/5/2012. Anh T chưa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị B có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; là nơi bị đơn anh Nguyễn Minh T có đăng ký nhân khẩu thường trú: phường P, thành phố H. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho các bên đương sự kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án, thông báo về phiên hòa giải, tiếp cận chứng cứ. Anh T chỉ đến Tòa án làm bản tự khai nhưng không đến làm việc theo các giấy triệu tập phiên hòa giải của Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Anh T đã ký nhận trực tiếp các văn bản tố tụng. Bị đơn anh T không đến tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng cư trú của bị đơn và đã nhận được Văn bản số 590/CAĐH- QLHC ngày 08/3/2021 của Công an thành phố Đồng Hới xác nhận: Công dân Nguyễn Minh T, sinh ngày 19/10/1979 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Quảng Bình và chưa cắt chuyển hộ khẩu đi đâu; Số hộ khẩu: 2187; chủ hộ là Nguyễn Minh T; hiện nay Nguyễn Minh T đang sinh sống tại nơi đăng ký thường trú. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo luật định. Ngày 12/7/2021 Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới nhưng bị đơn anh T vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ nhất. Do đó, HĐXX ra Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2021/ QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2021 và ấn định thời gian xét xử vào ngày 30/7/2021 theo đúng quy định tại Điều 227, 233 Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng bị đơn anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ; đã được tống đạt trực tiếp và có ký nhận của anh T đã nhận văn bản tố tụng Tòa án. Bị đơn anh T đều vắng mặt trong quá trình hòa giải và xét xử vụ án, tức là bị đơn cố tình từ bỏ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 68, 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Minh T.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cấp có thẩm quyền. Vì vậy, hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp; anh chị đã có thời gian khá dài chung sống; lẽ ra anh chị phải biết thương yêu, nhường nhịn, tôn trọng, tin tưởng nhau cùng nhau chia sẻ khó khăn xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng ngược lại anh chị không làm được điều đó để giữ gìn hôn nhân bền vững, cuộc sống chung vợ chồng trong nhiều năm gần đây luôn xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng trong cách sống, cách xử sự với nhau, thiếu tin tưởng nhau, từ đó vợ chồng có những lời nói và hành động tổn thương đến tình cảm vợ chồng. Không ai quan tâm đến ai, thiếu bàn bạc thống nhất vợ chồng, tình cảm vợ chồng mất mát dần. Mâu thuẫn của vợ chồng đã kéo dài từ nhiều năm nay nhưng hai bên không thể khắc phục và ngày càng căng thẳng do không tìm được tiếng nói chung; đã hơn ba năm nay vợ chồng sống ly thân không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng trong thực tế đời sồng. Đến nay chị B không còn tình cảm với chồng nữa vì anh T không yêu thương mẹ con chị. Trước đây chị cũng đã từng nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng đến giờ thì anh T không thay đổi luôn thờ ơ để mặc không quan tâm gia đình, vợ con.

Chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn nên kiên quyết xin được ly hôn, anh T biết rõ vụ kiện nhưng cũng không có ý gì muốn níu kéo hôn nhân mà thờ ơ để mặc, anh cũng không mong muốn được Tòa án hòa giải, thể hiện ở việc anh không đến tham gia các phiên họp, làm việc, hòa giải mà Tòa án triệu tập. Điều đó thể hiện rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể sống chung hạnh phúc nên cần thiết phải cho chị B được ly hôn anh T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Anh T và chị B thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Phúc Đông N, sinh ngày 12/12/2008 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 09/5/2012. Hiện hai con đang sống cùng ba mẹ. Nguyện vọng của chị B sau khi ly hôn muốn được nuôi hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Tại Đơn trình bày của hai cháu Nguyễn Phúc Đông N và cháu Nguyễn Bảo N đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ B nếu ba mẹ ly hôn. Xét nguyện vọng của chị B muốn trực tiếp nuôi dưỡng con chung là chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu Đông N và Bảo N. Chị B có đủ điều kiện để nuôi con, hơn nữa anh T mặc dù ghi ý kiến xin đoàn tụ để cùng nuôi con, anh cũng biết rõ vụ kiện nhưng cũng không có ý gì muốn níu kéo hôn nhân mà thờ ơ để mặc, anh cũng không mong muốn được Tòa án hòa giải, không trình bày nguyện vọng của mình về con chung. Căn cứ hoàn cảnh thực tế hai cháu còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị B, giao cháu Nguyễn Phúc Đông N, sinh ngày 12/12/2008 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 09/5/2012 cho chị Trần Thị Thanh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Trần Thị Thanh B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản và nợ chung: Chị B và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ chung, để vợ chồng chị tự thỏa thuận. Vì vây, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 5 khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị B phải chịu án phí 300.000 đồng để sung quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0001814 ngày 28/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Trần Thị Thanh B được ly hôn anh Nguyễn Minh T.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung cháu Nguyễn Phúc Đông N, sinh ngày 12/12/2008 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 09/5/2012 cho chị Trần Thị Thanh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung; không ai được ngăn cản người đó thực hiện quyền này.
  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn để sung quỹ Nhà nước. Số tiền chị Trần Thị Thanh B phải nộp được khấu trừ từ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Trần Thị Thanh B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên lai số AA/2020/0001814 ngày 28 tháng 12 năm 2020.

Án xử công khai, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2021); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đồng Hới;
  • - TAND Tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THA DS TP Đồng Hới;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hoa Thủy, h. Lệ Thủy, tỉnh QB;
  • - Lưu án, Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(đã ký)


Nguyễn Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18 /2021/HNGĐ-ST ngày 30/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình về kiện xin ly hôn

  • Số bản án: 18 /2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger