Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST
Ngày 17-6-2021
V/v Ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Trường
  2. Ông Hoàng Văn Đạo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Đông, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Trang, Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Kim S, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị T và anh Hoàng Kim S chung sống với nhau từ năm 2000, không được tự do tìm hiểu mà do gia đình hai bên mai mối và tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương vào năm 2000, do không hiểu biết pháp luật nên không đi đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường, quá trình chung sống những năm trước đây có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức độ trầm trọng. Đến vài năm gần đây vợ chồng bắt đầu ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn; nguyên nhân là anh Hoàng Kim S hay đi chơi cờ bạc và có sử dụng chất ma túy, không chịu tu trí làm ăn, nhiều lần đòi tiền nếu chị không cho thì chửi mắng chị. Hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh Sáng thường xuyên dọa nạt đánh đập chị T dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị Dương Thị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Hoàng Kim S nên chị Dương Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Kim S.

Về con chung: Có một người con chung là Hoàng Thị Trúc L, sinh ngày 23/9/2001. Hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung vợ chồng: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hoàng Kim S trình bày như sau: Qua mai mối, tìm hiểu và được sự nhất trí của hai bên gia đình, anh Hoàng Kim S và chị Dương Thị T đã chung sống với nhau từ năm 2000, nhưng không đi đăng ký kết hôn. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng anh đã sống ly thân, nguyên nhân là vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên không thể sống với nhau được. Hiện nay chị Dương Thị T yêu cầu ly hôn với anh thì anh cũng nhất trí.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận chị Dương Thị T và anh Hoàng Kim S là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Dương Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

[2] Anh Hoàng Kim S vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần hai không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[3] Về tình cảm: Chị Dương Thị T và anh Hoàng Kim S chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Kết quả xác minh tại UBND xã L cho thấy không có trường hợp đăng ký kết hôn của chị T và anh S.

[4] Căn cứ vào khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 35/2000/QH10, do hai người không đăng ký kết hôn trong thời hạn quy định nên pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 1 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Dương Thị T và anh Hoàng Kim S là vợ chồng.
  2. Về con chung: Có một người con chung là Hoàng Thị Trúc L, sinh ngày 23/9/2001, đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung vợ chồng: Không có.
  5. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2012/05983 ngày 08/3/2021.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- Chi cục THADS huyện Bắc Sơn;
- UBND xã L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Dương Thị Ngọc
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2021/HNGĐ-ST ngày 17/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về ly hôn

  • Số bản án: 18/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger