Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17A/2024/DS-ST

Ngày: 17/9/2024.

V/v: “Vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG- TỈNH THÁI BÌNH.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tiến Hưng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyến và bà Trần Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư kí Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân huyện Đ, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2024/TLST-DS ngày 02/5/2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXX-ST ngày 13/8/2024 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ngân hàng C1.

Trụ sở: Số A phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quốc T- Tổng giám đốc.

Người được đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Vũ Thị V - Giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Bình.

bà V ủy quyền lại cho ông Nguyễn Mạnh C- Phó giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Bình).

* Bị đơn:Bà Trần Thị N, sinh năm 1969(CMND số:[...])

Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi liên quan: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1963.

Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Ông C có mặt tại phiên toà bà N và ông Q vắng mặt không có ly do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, Nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/4/2016 bà N được sự ủy quyền của ông Q, đại diện cho hộ gia đình đã ký hợp đồng vay tiền, đồng thời nhận tiền tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Bình với số tiền vay là 12.000.000 đồng. Thời hạn vay đến 10/4/2021. Lãi xuất trong hạn 9%/1 năm, lãi quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn. Mục đích vay: Làm nước sạch nông thôn.

Khi quá hạn Ngân hàng đã nhiều lần thông báo trả nợ nhưng bà N và ông Q không trả. Từ ngày 10/10/2023 khoản nợ trên Ngân hàng đã chuyển thành nợ qua hạn.

Nay Ngân hàng chính sách huyện C1 yêu cầu bà N, ông Q phải trả toàn bộ tiền nợ gốc 12.000.000 đồng + Lãi trong hạn 8.116.274 đồng + Lãi quá hạn 1.330.915 đồng – 4.607.788 đồng(lãi đã trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm 17/9/2024).Tổng số tiên bà N và ông Q phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 là: 16.839.401đồng

+ Bị đơn trình bày:

Tòa án triệu tập bà nhưng bà N và ông Q không đến Tòa án trình bày. Tại gia đình bà N Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của bà N. Bà N khai: Bà N có đứng tên vay Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 12.000.000 đồng, nhưng bà không vay để bà sử dụng mà bà đứng tên vay sau khi vay bà cho ông Đỗ Văn Q1 vay lại, nhưng sau đó ông Q1 vỡ nợ không có tiền trả. Nay bà chấp nhận trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 nhưng với điều kiện khi nào ông Đỗ Văn Q1 trả tiền cho bà thì bà N mới trả tiền cho Ngân hàng chính sách huyện C1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

I/ Về tố tụng:

Bà Trần Thị N và ông Phạm Văn Q qua các lần Tòa án triệu tập lên Tòa án để giải quyết tranh chấp nhưng bà N đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành giao và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định tại nơi cư trú của bà N và ông Q.

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử, xét xử vụ án theo thủ tục chung.

II/ Về nội dung:

[1] Bà Trần Thị N được sự ủy quyền của ông Phạm Văn Q đại diện cho hộ gia đình là người có đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc bà phải biết khi bà tự nguyện ký kết hợp đồng dân sự thì hợp đồng dân sự đó có hiệu lực và bà N phải thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng. Việc bà N vay tiền của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 rồi bà không dùng tiền vào mục đích cam kết vay (làm nước sạch nông thôn) là hoàn toàn thuộc lỗi của bà N. Nay Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 yêu cầu bà N, ông Q trả nợ tiền gốc và tiền lãi trong hạn, tiền lãi qua hạn là đều có căn cứ pháp luật. Do đó, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1.

Còn việc bà N cho Ông Q1 vay lại tiền là quan hệ giữa bà N và ông Q1 không liên quan đến vụ án này. Bà N hoàn toàn có quyền khởi kiện người vay tiền của bà bằng vụ án Dân sự khác.

Từ nhận định trên buộc bà N, ông Q phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 Tiền gốc nợ gốc 12.000.000 đồng + Lãi trong hạn 8.116.274 đồng + Lãi quá hạn 1.330.915 đồng – 4.607.788 đồng(lãi đã trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm 17/9/2024).Tổng số tiên bà N và ông Q phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 là: 16.839.401đồng

[4] Về án phí: Bà N, ông Q phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là: 16.839.401đồng x 5% = 841.970 đồng

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các; Điều 463, 466, 470, Khoản 1 Điều 468 của của Bộ luật dân sự; Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1.

[2] Xử: Buộc bà Trần Thị N và ông Phạm Văn Q phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Bình tổng số tiền là 16.839.401đồng ( Trong đó: 12.000.000 đồng tiền gốc và 4.839.401 đồng tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 17/9/2024).

Kể từ ngày Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Bình có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà N chậm thi hành án khoản tiền phải thi hành án thì bà N phải chịu lãi suất đối với khoản tiền phải thi hành án, theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3] Về án phí:

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị N và ông Phạm Văn Q phải chịu 841.970 đồng tiền án phí Dân sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, đối với người có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

- Các đương sự.

- VKSND, THA h: Đông Hưng.

- Lưu HS-VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Tiến Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17A/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về vay tài sản

  • Số bản án: 17A/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng chính sách - Nh - Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger