Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 179/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 05 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 476/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định hoãn số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế H, sinh năm 1990; Địa chỉ: số F, đường T, Quận T, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc).

Địa chỉ cư trú ở Việt Nam: Xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. (Hiện anh H đang ở Việt Nam, có đơn xin xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1999; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hiện cư trú tại Đài Loan. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Thế H trình bày: Anh và chị Trần Thị N yêu nhau và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 04 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì cuối năm 2022 hai vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Kể từ đó đến nay, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do không tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Hai bên đã cắt đứt quan hệ, không liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trần Thị N.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Trần Thị N: Do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên anh Nguyễn Thế H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị N ở Đài Loan. Theo anh H trình bày chị N vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Trần Duy T và bà Nguyễn Thị H1, trú tại: Xóm B mới (xóm C cũ), xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và ông T, bà H1 biết địa chỉ cụ thể của chị N ở Đài Loan; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Trần Duy T và bà Nguyễn Thị H1 (là bố mẹ đẻ của chị Trần Thị N) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông T, bà H1 thông báo cho chị N và đề nghị chị N nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh H. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của chị N trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, chị N không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Nguyễn Thế Hải ly h với chị Trần Thị N. Về con chung: Anh hải và chị N không có con chung nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở Đài Loan. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị N hiện đang ở Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. ông Trần Duy T và bà Nguyễn Thị H1 (là bố mẹ đẻ của chị N) đã thông báo cho con gái về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông T, bà H1 cung cấp địa chỉ cụ thể của chị N ở Đài Loan nhưng ông T, bà H1 không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của chị N trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh H nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Nguyễn Thế H vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị N vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế H và chị Trần Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, quá trình anh H và chị N đang sinh sống làm việc ở tại Đài Loan, tuy nhiên hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Anh H có nguyện vọng được ly hôn với chị N. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị N không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh H được ly hôn với chị N là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Anh Nguyễn Thế H và chị Trần Thị N không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Thế H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Thế H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thế H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế H được ly hôn với chị Trần Thị N
    • - Về con chung: Tòa án không giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc anh Nguyễn Thế H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: số 0001438 ngày 26/12/2023
  3. Anh Nguyễn Thế H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Trần Thị N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Hải

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 179/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Hải Nhàn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger