Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 179/2024/HSST

Ngày: 29-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Trịnh Thị Kim Cúc.
  • 2. Bà Trịnh Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 179/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Trí T - sinh ngày 07 tháng 8 năm 1979; tại: Tỉnh Nam Định; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số G đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1 và bà Trần Thị L; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26-9-2006 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 30-5-2011 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15-5-2024, chuyển tạm giam ngày 18-5-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

· Bị hại:

  1. Lại Văn L1 - sinh năm 1995
  2. Nơi thường trú: Số A đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

    Nơi ở hiện nay: Số H đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt tại phiên tòa).

  3. Phạm Tiến Đ - sinh năm 1995
  4. Nơi cư trú: số A đường V, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Trí T, Phạm Mạnh T2, Trần Ngọc T3, Trần Quốc T4 cùng làm quản lý nhân viên nữ phục vụ quán Karaoke tại địa chỉ: Số C đường S, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Khoảng 16 giờ ngày 12-3-2020, anh Trần Quang N - sinh năm 1977; trú tại: Số I L, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định là chủ quán quán K1 tại địa chỉ: Số C đường S, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định gọi điện cho Phạm Trí T đặt vấn đề gọi nhân viên nữ đến quán K1 để rót bia cho khách, T đồng ý. Nhân viên của T sau đó đi đến quán K1 phục vụ khách đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì được khách thanh toán tiền công và ra về.

Chiều tối cùng ngày, anh Trần Quang N đi đến số B đường S phường T uống rượu thì gặp lại một số khách đã hát lúc trước tại quán Karaoke của mình, những người này tiếp tục nhờ anh N gọi giúp nhân viên đến rót rượu, anh N đồng ý. Sau đó, anh N gọi điện cho Phạm Trí T đặt vấn đề gọi nhân viên nữ đến rót rượu cho khách tại đường S, T đồng ý. Một lúc sau, nhân viên của T đi đến phục vụ nhóm khách trên. Tuy nhiên, lần này nhân viên của T chưa được khách thanh toán tiền công nên đã kể lại sự việc cho T biết.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh Trần Quang N đang ở quán K1 tại số C đường S thì Phạm Trí T gọi điện cho anh N nói về việc anh N chưa thanh toán tiền công cho nhân viên của T, giữa anh NT xảy ra cãi nhau. Một lúc sau, T điều khiển xe ô tô chở Trần Ngọc T3Trần Quốc T4 đi đến quán Karaoke của anh N. Tại đây, T cầm tuýp sắt, T3 dùng chân tay đánh anh N, T còn cầm ghế nhựa vụt vào người chị Mai Thị T5, sinh năm 1977; là vợ anh N nhưng không gây thương tích gì. Sau đó, T, T3, T4 lên xe ô tô đi về.

Bị TT3 đánh nên anh Trần Quang N gọi điện cho Lại Xuân L2, sinh năm 1995; trú tại: Số A đường G, phường T, thành phố NPhạm Tiến Đ, sinh năm 1995; trú tại: Số A đường V, phường T, thành phố N thông báo việc mình bị đánh và bảo Đ, L2 sang quán Karaoke của mình. Khi L2Đ đi đến quán K1 của anh N thì được anh N kể lại sự việc bị nhóm T đánh. Một lúc sau, Phạm Mạnh T2 (là em trai Phạm Trí T) đi đến quán Karaoke R gặp anh N nói chuyện thì giữa T2 và anh N xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau nên T2 bỏ về số nhà C đường S. Sau khi nghe chuyện, L2 tự đi về nhà lấy 01 con dao dài khoảng 70 cm, lưỡi dao bằng kim loại bản rộng hình chữ nhật dài khoảng 52cm, chuôi dao được quấn một lớp vải màu đen dài khoảng 18cm mang đến để ở trong nhà vệ sinh của quán K1 mục đích nếu xảy ra đánh nhau với nhóm của T thì mang ra để sử dụng. Lúc này, chị Trần Thị T6, sinh năm 1973 (là chị gái N) và anh Trần Văn D, sinh năm 1967 (là bạn chị T6) cũng đi đến quán Karaoke của anh N thì được anh N kể lại sự việc mình bị nhóm T đánh nên anh D và chị T6 đi sang C đường S để nói chuyện với TT2.

Khi anh D đi sang nhà số nhà C đường S thì gặp T2T. Tại đây, hai bên xảy ra cãi, chửi nhau, T2 đuổi theo để đánh anh D nhưng không đuổi kịp nên quay lại nhà số C đường S. Lúc này, Lò Văn T7 (là em vợ T2) đang làm nhân viên phục vụ tại quán K2, địa chỉ: Số D đường S nghe thấy tiếng cãi chửi nhau tại số nhà C đường S nên T7 liền chạy bộ từ quán K2 về phía nhà số C đường S với mục đích nếu xảy ra đánh nhau thì sẽ hỗ trợ anh em đánh lại. Cùng lúc này, Phạm Tiến Đ đi xe máy điện biển kiểm soát 18MD1–06041 chở Lại Xuân L2 cầm dao chuẩn bị từ trước đi từ quán K1 đến nhà số C đường S để đánh nhau với nhóm của T2T. T2T lúc này đang đứng trước cửa nhà số C đường S, còn Trần Quốc T4Trần Ngọc T3 đang ở trong nhà. T2T thấy vậy chạy vào trong nhà lấy hung khí, T cầm một con dao dài khoảng 1m, cán dao bằng gỗ dài khoảng 28cm, có một cạnh sắc, đầu nhọn, còn T4 cầm một đoạn tuýp sắt dài khoảng 1m, hình hộp vuông, một đầu cắt vát nhọn, Thủy cầm trên tay một đoạn tuýp sắt hình hộp vuông dài khoảng 1,3m, hai đầu cắt bằng lấy được từ tay Trần Quốc T4, T3 cầm một đoạn tuýp sắt, một đầu gắn dao bầu dài khoảng 1,2m chạy ra đứng trước cửa nhà số C đường S để đánh nhau với L2Đ.

Khi L2Đ đi đến trước cửa nhà số C đường S đứng đối diện với nhóm của T2. Liêm dơ dao về phía nhóm của T2 chửi, T bất ngờ cầm dao chém một nhát vào tay Đ, Đ dơ tay trái lên đỡ thì bị chém trúng cẳng sau tay trái. T vung dao định chém tiếp thì Đ dùng tay trái nắm lấy lưỡi dao rồi dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào vùng mặt của T. T4 lao vào dùng tuýp sắt vụt nhiều nhát vào người và tay Đ. Bị đánh, Đ lùi lại phía sau hướng về phía ngã tư bùng binh, đường S và dùng tay đánh lại T. Trung lúc này bị rơi tuýp sắt xuống đường tiếp tục cùng T dùng tay đánh Đ nhưng chưa ai bị thương tích gì. Cùng lúc này, L2 dùng dao và T2 dùng tuýp sắt đánh nhau qua lại, T2 dùng tuýp sắt vụt L2, L2 cầm dao chém lại

trúng đầu T2 gây rách da chảy máu làm T2 rơi tuýp sắt ra đường. T2 tiếp tục lao vào giằng co dao với L2, T2L2 cầm dao giằng co nhau lùi về phía đường đối diện, trong quá trình giằng co T2 bị lưỡi dao cứa vào lòng bàn tay trái gây rách da chảy máu. T3 thấy vậy cầm tuýp sắt gắn dao bầu chạy phía sau đuổi theo để chém L2. Lò Văn T7 đang đứng gần đó thấy vậy cũng nhặt đoạn tuýp sắt của T2 đánh rơi trước đó đuổi đánh L2. Khi T2L2 giằng co dao đến trước cửa nhà số H đường S thì L2 bị ngã ngồi ra đường, L2 dơ dao chém T2 trúng bàn tay phải làm đứt gần rời ngón tay trỏ và trúng phần miệng của T2 làm rách da chảy máu. T3 lúc này chạy đến cầm tuýp sắt gắn dao bầu chém nhiều nhát vào chân L2. T2 giằng được dao của L2 cũng cầm dao vung lên chém nhiều nhát vào người L2. Thắng lúc này cầm một đoạn tuýp sắt đuổi theo đến vị trí của L2 để đánh thì T4, T chạy đến. T4 giật đoạn tuýp sắt từ tay T7 giơ lên định vụt L2, còn T chạy đến cầm dao chém nhiều nhát vào chân L2 thì lúc này có xe Công an phường Trần Quang K đến yêu cầu không đánh nhau nữa. Liêm lúc này vùng dậy chạy sang phía hông xe Công an thì tiếp tục bị T4 cầm tuýp sắt lấy của T7 từ trước, Thủy cầm dao, T cầm dao đánh, chém vào người, chân L2. Đạt lúc này đi đến can ngăn thì bị T tiếp tục dùng dao chém vào tay phải, T4 cầm tuýp sắt vụt vào người. Sau đó, tất cả các đối tượng bỏ đi. Phạm Mạnh T2 được đưa đến Bệnh viện điều trị thương tích cụ thể như sau: 01 vết thương thái dương trái kích thước (3x1) cm; 01 vết thương môi trên kích thước (4x1) cm; 01 vết thương ngón III tay phải kích thước (2x1) cm; đứt lìa đốt 3 ngón II tay phải; 01 vết thương rách da ngón II, III, IV bàn tray trái; Phạm Tiến Đ được đưa đến cấp cứu, điều trị tại bệnh viện với thương tích cụ thể như sau: 01 vết thương cẳng tay phải kích thước (5x3) cm, 01 vết thương tay trái kích thước (5x2) cm, gãy mỏm khuỷu, gãy thành trước xương trụ; Lại Xuân L2 được đưa đến bệnh viện điều trị với thương tích cụ thể như sau: 01 vết thương trên cẳng chân trái kích thước (10x3) cm; 01 vết thương giữa cẳng chân trái kích thước (15x5) cm, 01 vết thương dưới cẳng chân trái kích thước (5x3) cm, gãy xương mác; 01 vết thương gối phải kích thước (10x3) cm; 01 vết thương khuỷu tay phải kích thước (5x1) cm, 01 vết thương bàn tay trái; 01 vết thương trán kích thước 03 cm; tụ máu ngoài trục vùng trán trái; 01 vết thương má trái kích thước 01 cm.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 131/20/TgT ngày 30/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận chính thức: Tỷ lệ thương tích của Phạm Mạnh T2 là 12%. Cơ chế hình thành vết thương: Vật cứng có cạnh sắc tác động gây thương tích.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 149/20/TgT ngày 25/6/2020 kết luận chính thức: Tỷ lệ thương tích của Phạm Tiến Đ là 12%. Cơ chế hình thành vết thương: Vật cứng có cạnh sắc tác động gây thương tích.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 148/20/TgT ngày 25/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận chính thức: Tỷ lệ thương tích của

Lại Xuân L2 là 29%. Cơ chế hình thành vết thương: Vật cứng và vật cứng có cạnh sắc tác động gây thương tích.

Sau khi sự việc xảy ra, Công an phường T đã tiến hành kiểm tra hiện trường và lấy lời khai của những người liên quan. Tại hiện trường, Công an phường T đã thu giữ 01 đoạn tuýp sắt của T4 và 01 đoạn tuýp sắt của T2 và 01 con dao của L2 sử dụng để đánh nhau bỏ lại tại hiện trường.

Sau khi tiếp nhận vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Trần Ngọc T3 01 đoạn tuýp sắt gắn dao bầu và 01 con dao của T đã sử dụng đánh nhau.

Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N đã khởi tố vụ án, khởi tố các bị can gồm: Phạm Trí T; Phạm Mạnh T2; Trần Ngọc T3; Trần Quốc T4; Lò Văn T7; Lại Xuân L2; Phạm Tiến Đ.

Quá trình điều tra xác định Phạm Trí T bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra - Công an thành phố N đã ra quyết định truy nã số 26 ngày 13-7-2020 đối với Phạm Trí T theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2020, 29/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã mở phiên tòa xét xử đối với Phạm Mạnh T2, Trần Ngọc T3, Trần Quốc T4, Lò Văn T7, Lại Xuân L2, Phạm Tiến Đ và đã xử lý đối với vật chứng thu giữ trong vụ án.

Ngày 15/5/2024, Phạm Trí T đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và các đồng phạm.

Trong quá trình điều tra, Lại Xuân L2Phạm Tiến Đ không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho những người đã gây thương tích cho mình.

Bản Cáo trạng số 179/CT-VKS-TPNĐ ngày 12-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Phạm Trí T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i của Điều luật).

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà: Bị cáo Phạm Trí T đã khai nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích cho Lại Xuân L2Phạm Tiến Đ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phạm Trí T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Trí T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i của Điều luật); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Trí T từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm tù

Bị cáo Phạm Trí T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Trí T và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Trí T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng; bản Thực nghiệm điều tra; Sơ đồ thực nghiệm điều tra; bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 148/20/TgT ngày 25/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh N; bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 149/20/TgT ngày 25/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh N cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 21 giờ ngày 12-03-2020, tại khu vực trước cửa nhà số C và nhà số H đường S, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Do có mâu thuẫn nên Phạm Trí T cùng đồng phạm đã dùng tuýp sắt, dao đánh, chém gây thương tích cho Phạm Tiến Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%; gây thương tích cho Lại Xuân L2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Trí T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” được liệt kê tại điểm a, i khoản 1 của Điều luật).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, bị cáo đã hai lần bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bản chất

coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phạm Trí T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã ra đầu thú; bị hại cũng có một phần lỗi và bị hại có đơn xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Trí T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là Lại Xuân L2Phạm Tiến Đ không yêu cầu bị cáo Phạm Trí T bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về vật chứng trong vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 289/2020/HSST ngày 25-9-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Trí T phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Trí T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 của Điều luật); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Trí T 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15-5-2024.

2. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Phạm Trí T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Phạm Trí T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)

  • Số bản án: 179/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger