TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 179/2024/HS-ST Ngày: 29 – 7 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thành Sơn.
- Ông Thái Văn Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2024/TLST- HS ngày 16/17/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:
Đoàn Văn Đ, sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi thường trú: Thôn I, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn H và bà Vũ Thị T; Vợ Lương Thị Trúc H1 và 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2023. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: 1C1 khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lương Thị Trúc H1, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Có mặt
Bà Đoàn Thị Q, sinh năm 1993; trú tại: 1 khu phố T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Trần Văn Đ1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 07/2023, Đoàn Văn Đ truy cập facebook thấy có tài khoản (không nhớ tên người dùng) đăng bài viết mua bán nhẫn vàng “non” nên Đ hỏi mua thì được chủ tài khoản trên tư vấn nhẫn vàng non là lớp vỏ bên ngoài nhẫn làm bằng vàng thật, bên trong là làm bằng kim loại khác, nếu thử qua máy soi vàng thì cũng không phát hiện được là vàng non. Độ nảy sinh ý định lừa người khác nên đặt mua 04 chiếc nhẫn vàng non, mỗi chiếc có trọng lượng 05 chỉ với tổng giá tiền là 56.000.000 đồng, Đ yêu cầu khắc chữ bên trong nhẫn là “Anh Tuấn – Phương Trang ngày 20/12/2020” để khi đi cầm cố sẽ nói dối đây là nhẫn cưới của Đ nhằm tạo lòng tin cầm cố được giá cao như vàng thật 24K.
Khoảng 19 giờ ngày 13/10/2023, Đ mang 02 chiếc nhẫn vàng non đến tiệm V thuộc khu phố B, phường T, thành phố T do ông Nguyễn Ngọc H2 làm chủ, khi vào tiệm vàng gặp ông Trần Văn Đ1 là nhân viên, Đ xưng mình tên là “T1” và nói cần cầm cố 02 chiếc nhẫn vàng cưới, mỗi chiếc 05 chỉ vàng 24K, ông Đồng t thật nên đồng ý cầm số tiền 48.000.000 đồng. Hai bên lập giấy cầm cố, Đ ký vào giấy cầm cố với tên “T1”, sau khi nhận tiền Độ ra về rồi xé bỏ giấy này với mục đích không chuộc lại.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/10/2023, bằng cách thức tương tự, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển số 47F1- 705.84 mang theo 02 chiếc nhẫn vàng non còn lại đến tiệm V1, số D khu phố B, phường T, thành phố T để cầm cố với số tiền 47.000.000 đồng. Do hai tiệm vàng nêu trên đều do ông Nguyễn Ngọc H2 làm chủ, thời điểm Độ đến cầm cố thì ông Trần Văn Đ1 là nhân viên cũng có mặt trong tiệm V1. Khi Đ đề nghị cầm cố 02 chiếc nhẫn trên, ông Đ1 nhận ra Độ giống người hôm trước cầm cố 02 chiếc nhẫn nên nghi ngờ kiểm tra bằng cách dùng kéo cắt 01 chiếc nhẫn mà Đ cầm cố thì phát hiện bên trong của chiếc nhẫn không phải làm bằng chất liệu vàng mà bằng chất liệu khác nên trình báo Công an.
Kết luận giám định số 6695/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C1, kết luận:
- 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (A): 99,98%, khối lượng 8,4171 gam; Wonfram (W): 98,18%, khối lượng: 10,3366 gam.
- 02 miếng kim loại màu vàng, bên trong độn miếng kim loại màu trắng có thành phần kim loại Vàng (A): 99,97%, tổng khối lượng 8,1915 gam; Wonfram (W): 98,90%, tổng khối lượng: 10,5561 gam.
- 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, gửi giám định đều có thành phần kim loại Vàng (Au): 99,99%, tổng khối lượng: 16,4536 gam; Wonfram (W): 98,53%, tổng khối lượng: 16,0730 gam.
Bản Cáo trạng số 195/CT-VKS -TA ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Đoàn Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An thay đổi một phần quyết định truy tố, cụ thể như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 47F1- 70584.
Tịch thu tiêu hủy: 02 bì thư niêm phong bên ngoài bì thư có niêm phong số vụ 6695/1; 6695/2 cùng đề ngày 03/11/2023; có chữ ký người chứng kiến Trịnh Mạnh C, người niêm phong Phan Văn H3 (kèm kết luận giám định số 6695/KL/KTHS ngày 02/11/2023 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh Bộ C1.
- Bị cáo Đoàn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo, nuôi con mới sinh và cha mẹ già yếu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Đoàn Văn Đ phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 13/10/2023, tại tiệm V, số D khu phố B, phường T, thành phố T, Đoàn Văn Đ sử dụng 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng rồi đưa ra thông tin gian dối là nhẫn cưới bằng vàng thật 24K, làm bị hại Nguyễn Ngọc H2 tưởng thật để cầm cố số tiền 48.000.000 đồng.
Khoảng 19 giờ ngày 16/10/2023, Đoàn Văn Đ tiếp tục sử dụng 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng đến tiệm V1, số D khu phố B, phường T, thành phố T cũng của ông Nguyễn Ngọc H2 để cầm cố số tiền 47.000.000 đồng, trong lúc đang cầm cố thì bị phát hiện.
Tổng số tiền 02 lần bị cáo chiếm đoạt là 95.000.000 đồng, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuy nhiên lần thứ hai bị cáo chưa nhận được tiền thì bị phát hiện nên phạm tội chưa đạt lần thứ 2.
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo dùng thông tin gian dối làm cho bị hại tin tưởng là thật nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó
cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tác động gia đình bồi thường cho bị hại; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lần thứ hai phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
[7] Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ (sinh tháng 02/2024), thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.
[8] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện đã nhận số tiền 48.000.000 đồng bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 47F1- 70584 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 02 bì thư niêm phong bên ngoài bì thư có chữ BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, mặt sau có dán niêm phong, ghi niêm phong số vụ 6695/1; 6695/2 cùng đề ngày 03/11/2023 kèm kết luận giám định số 6695/KL/KTHS ngày 02/11/2023 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh Bộ C1) có chứa 01 chiếc nhẫn mẫu kim loại màu vàng 8,4156 gam, mẫu kim loại màu trắng 9,0896 gam; 02 miếng kim loại, mẫu kim loại màu vàng 8,1902 gam, mẫu kim loại màu trắng 10,3124 gam; 02 chiếc nhẫn mẫu kim loại màu vàng 16,4512 gam, mẫu kim loại màu trắng 16,0121 gam, theo Kết luận giám định thì có thành phần kim loại vàng 99,99%, là công cụ phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
[11] Đối với bà Lương Thị Trúc H1 và bà Đoàn Thị Q không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường cho bị hại nên không xem xét.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47, 57 và 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả tự do cho bị cáo Đoàn Văn Đ ngay tại phiên toà nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Đoàn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax dung lượng 128GB (không kiểm tra được số IMEI do không mở được nguồn, không kiểm tra tình trạng bên trong máy, không kiểm tra được số sim)
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại KC441 WINNER X, dung tích xylanh 149.1cm³, màu xám, biển số 47F1-70584, số khung: RLHKC4418NY047408, số máy KC34E 5063260 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy, không chìa khoá thông minh, kèm theo kết luận giám định xe).
- 02 miếng kim loại, mẫu kim loại màu vàng 8,1902 gam, mẫu kim loại màu trắng 10,3124 gam; 02 chiếc nhẫn mẫu kim loại màu vàng 16,4512 gam, mẫu kim loại màu trắng 16,0121 gam; 01 chiếc nhẫn mẫu kim loại màu vàng 8,4156 gam, mẫu kim loại màu trắng 9,0896 gam, theo Kết luận giám định thì có thành phần kim loại vàng 99,99% chứa trong 02 bì thư niêm phong bên ngoài bì thư có chữ BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, mặt sau có dán niêm phong, ghi niêm phong số vụ 6695/1; 6695/2 cùng đề ngày 03/11/2023.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An)
3. Về án phí:
Bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |
Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 179/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
