|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 179/2024/DS-ST Ngày 27/8/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Viết Thông
- Bà Nguyễn Thị Tạc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 393/2024/TLST-DS, ngày 17/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXX - ST ngày 17/7/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 286/QĐST-DS ngày 08/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H (có mặt)
Địa chỉ: 0 H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người được uỷ quyền: Ông Đỗ Văn H1 (có mặt)
Địa chỉ: 5 Hồ T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Lê Văn H2 (có mặt)
Địa chỉ: C Khu nhà ở xã hội, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Tôi và ông Lê Văn H2 có quan hệ quen biết do cùng là giáo viên tại Trường THCS L. Do cần tiền làm ăn nên ông Lê Văn H2 và vợ có hỏi vay tiền của tôi và tôi đồng ý. Ngày 17/3/2017, tôi cho ông Lê Văn H2 vay số tiền là 250.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận miệng về lãi suất theo mức lãi suất Ngân hàng và khi nào tôi cần thì ông H2 phải trả lại toàn bộ tiền gốc và lãi cho tôi. Việc vay mượn tiền được lập thành giấy mượn tiền ngày 17/3/2017. Nguồn gốc của khoản nợ này là ông Lê Văn H2 có lô đất tái định cư bán cho tôi với giá 250.000.000 đồng còn chi phí giấy tờ tôi chịu. Tôi đã đưa cho ông H2 số tiền 250.000.000 đồng. Khi mua bán thì tôi không có viết giấy tờ gì. Sau thời gian tôi yêu cầu làm thủ tục giấy tờ ông H2, không làm được nên các bên thống nhất viết giấy nợ này cho tôi và nói khi nào xong thủ tục đất thì sẽ chuyển nhượng cho tôi. Nhưng ông H2 không chuyển nhượng cho tôi. Sau Khoảng 1 năm, tôi đã nhiều lần yêu cầu ông Lê Văn H2 trả lại toàn bộ tiền gốc và lãi cho tôi nhưng ông H2 xin gia hạn thêm thời gian trả tiền. Ông H2 hứa hẹn trả tiền cho tôi nhiều lần nhưng đều thất hứa không thực hiện. Tôi đã làm đơn nhờ Ban giám hiệu trường THCS L can thiệp giải quyết nhưng ông H2 vẫn không trả tiền và còn có thái độ thách thức tôi khởi kiện. Số tiền tôi cho ông H2 mượn là tiền riêng của tôi không liên quan đến ai. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tôi làm đơn này khởi kiện ông Lê Văn H2, đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc ông Lê Văn H2 trả lại cho tôi tổng số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 17/3/2017 theo lãi suất 10%/năm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản tiền còn nợ cho tôi.
* Bị đơn ông Lê Văn H2 trình bày:
Vào khoảng đầu tháng 1/2017 tôi và ông Nguyễn Văn H có cùng nhau làm ăn mua bán xây dựng nhà trên đất nông nghiệp. Trong thời gian làm ăn chúng tôi không có xảy ra mâu thuẫn gì. Cho đến khoảng vào đầu tháng 3/2017 tôi có người bạn giới thiệu có bán lô đất nông nghiệp ở đường T khoảng 100m2 với giá 250.000.000 đồng. Tôi nói ông H mua đầu tư chung với tôi nhưng ông H không mua nên ông H nói tôi mua đi rồi cho tôi mượn tiền lấy đi rồi bán kiếm lời thêm nhưng phải xử lý nhanh
không để lâu là khi bán không có lời. Tôi về bàn với gia đình nhưng vợ tôi không đồng ý vì tôi thấy lô đất này đẹp nên gọi ông H ra trao đổi và ông H nói cho tôi mượn tiền để mua nhanh không người khác mua mất. Tôi liền gọi điện cho chủ đất và hẹn ngày 17/3/2017 tôi mượn tiền của ông H để làm thủ tục mua lô đất đó. Trong thời gian chờ làm giấy tờ hợp pháp thì có người hỏi mua lại với giá 270.000.000 đồng thì tôi có gọi cho ông H thì ông H nói bán đi để kiếm lời ít cho khỏe và trả lại tiền gốc cho ông H, tiền lời không lấy. Khi đó tôi gọi 02 bên mua bán đất ra để chuyển đổi viết giấy pho to bìa trực tiếp cho bên mua luôn thì không liên lạc được đến phòng trọ tìm thì không có biết người này. Tôi nghi ngờ và hỏi thì được biết lô đất này nằm trong khu giải tỏa và bán sang tay nhiều người. Nên tôi biết mình bị lừa và xin ông H cho tôi khất và trả góp 2-3 lần thì ông H nhất trí vì biết tôi bị lừa. Đến gần cuối tháng 6/2017 tôi mang tiền đến trả cho ông H trước 100.000.000 đồng. Tôi nói sao không đưa giấy tờ tôi viết để trừ bớt thì ông H nói mình là anh em lo gì, khi nào tôi trả hết tiền thì ông H xé luôn cho. Tôi hoàn toàn tin tưởng nên đồng ý luôn. Đến khoảng 6-7 tháng sau tôi có mang tiền đến trường trả cho ông H số tiền 150.000.000 đồng . Tổng số tiền tôi đã trả cho ông H là 250.000.000 đồng và ông H nói để về xé tờ giấy mượn ngày 17/3/2017. Từ đó tôi yên tâm và tin tưởng và không hỏi chuyện đó nữa. Đến khoảng năm 2019 ông H có trao đổi với tôi có lô đất nông nghiệp mua chung với anh trai ở sau bệnh viện vùng, tôi có mua xây nhà được không thì bán cho thì tôi ra xem rồi mua lại tranh thủ xây dựng nhà và tôi đã xây nhà với giá trị 300.000.000 đồng thì ông H đòi ngược lại nói anh trai không chịu bán nữa mà chỉ nhờ tôi xây cho anh trài ông H rồi trả tiền công, tổng chi phí toàn bộ một căn nhà cho tôi. Khi xây xong tổng số tiền gần 300.000.000 đồng tôi có hỏi tiền thì ông H và anh ông H không chịu trả và ông H nói nếu tôi đòi tiền xây nhà trên đất của anh trai ông H thì ông H sẽ lấy giấy mượn tiền 250.000.000 đồng kiện tôi. Tôi xác định giấy mượn tiền ngày 17/3/2017 là do tôi viết và ký tên. Tôi có mượn ông H số tiền 250.000.000 đồng, việc vay mượn số tiền này chỉ mình tôi mượn ông H và không liên quan đến ai khác. Nhưng tôi đã trả hết số tiền nợ 250.000.000 đồng cho ông H. Khi trả tiền cho ông H thì tôi không viết giấy tờ gì và không ai làm chứng. Tôi trả tiền cho ông H là tiền mặt. Khi trả xong nợ thì ông H bảo về xé giấy tờ thì tôi tin tưởng nên không đòi giấy mượn tiền lại. Nay ông H khởi kiện tôi đòi số tiền 250.000.000 đồng và lãi suất thì tôi không đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Tp Buôn Ma Thuột theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Năm 2017 ông Nguyễn Văn H và ông Lê Văn H2 thoả thuận mua bán đất số tiền 250.000.000 đồng, tuy nhiên việc chuyển nhượng không thành nên ngày 17/3/2017 ông Lê Văn H2 viết giấy cho ông Nguyễn Văn H vay số tiền là 250.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận miệng về lãi suất theo mức lãi suất Ngân hàng và khi nào ông H cần thì ông H2 phải trả lại toàn bộ tiền gốc và lãi cho ông H. Việc vay mượn tiền được lập thành giấy mượn tiền ngày 17/3/2017. Quá trình vay mượn ông H đòi nhiều lần nhưng ông H2 không trả do vậy các bên xảy ra tranh chấp.
Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Bị đơn đã không thực hiện việc trả nợ như cam kết là vi phạm hợp đồng. Việc nguyên đơn khởi kiện đòi số tiền là 250.000.000 đồng tiền gốc và lãi suất là có cơ sở cần chấp nhận.
Xét lời trình bày của ông Lê Văn H2 cho rằng số tiền này đã trả hết cho ông H 2 lần, nhưng đại diện uỷ quyền của ông H không đồng ý và không thừa nhận, tại phiên Toà ông H2 không đưa ra chứng cứ chứng minh do đó không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên toà ông H2 cho rằng có xây nhà trên đất nông nghiệp cho ông H trị giá 300.000.000 đồng, hai bên không có hợp đồng xây dựng, hiện nay ông H chưa trả số tiền trên cho ông H2. Tại phiên toà ông H không thừa nhận. Do vậy ông H2 có quyền khởi kiện ông H bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đầy đủ chứng cứ và có đơn yêu cầu.
Xét về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, tại phiên toà các đương sự xác định có thoả thuận về lãi do vậy cần chấp nhận, áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất là phù hợp.
Số tiền lãi cụ thể như sau: 250.000.000 đồng x 0,83%/tháng 07 năm 05 tháng 10 ngày (kể từ ngày 17/3/2017 đến ngày 27/8/2024) = 191.591.660 đồng.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, 465, 466, 467, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H
Buộc ông Lê Văn H2 hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền gốc 250.000.000 đồng và 191.591.660 đồng tiền lãi. Tổng cộng 441.591.660 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
2. Về án phí: Ông Lê Văn H2 phải chịu 21.663.666 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn H được nhận lại số 10.513.699 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0010031 đã nộp ngày 10/5/2024 tại chi cục thi hành án dân sự TP Buôn Ma Thuột.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Viết Kiên |
Bản án số 179/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 179/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
