|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 179/2024/HS-ST
Ngày: 27-08-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 08 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 187/2024/HSST ngày 01/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-HS ngày 12/08/2024 đối với bị cáo:
Phạm Nhật L; Giới tính: N; sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; T: Không; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Văn D và bà Trần Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 17/05/2024 (có mặt).
Bị hại: Trẻ Phạm Hoàng L1, sinh năm 2007; Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phạm Văn Í – cha ruột; địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt);
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn Í, sinh năm 1972; Địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Mạc T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số A Hòa Bình, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 03/05/2024, Phạm Nhật L nhờ bạn cùng xóm là Phạm Hoàng L1 chở về Thành phố Hồ Chí Minh để vay tiền trả nợ thì L1 đồng ý. L1 sử dụng xe gắn máy honda W hiệu alpha, màu đen, biển số: 93H1 – 304.67 chở L từ tỉnh Bình Phước về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến tiệm Internet (địa chỉ: số B, đường N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh), L nói với L1 ở lại tiệm Internet rồi cho L mượn xe gắn máy và chiếc điện thoại Iphone 11 promax để L đi mượn tiền (do điện thoại của L1 có sóng 4G để L đi theo Goolgle map) thì L1 đồng ý. Sau khi mượn được xe và điện thoại, L điều khiển xe chạy đến quán café (không nhớ rõ địa chỉ, gần trường Đại học G) gọi cho bạn học qua ứng dụng zalo và messenger để mượn tiền nhưng không ai cho mượn. Lúc này, do cần tiền trả nợ, nên L đã nảy sinh ý định cầm xe gắn máy và điện thoại của L1 lấy tiền trả nợ. L đi đến tiệm C (địa chỉ: số A đường H, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) gặp ông Nguyễn Mạc T1 là chủ tiệm cầm đồ Xuân A, L cầm chiếc xe gắn máy được số tiền 10.000.000 đồng. Nhưng số tiền này không đủ để trả nợ nên L tiếp tục cầm thêm chiếc điện thoại Iphone 11 promax với giá 4.000.000 đồng. Ông T1 chuyển khoản cho L số tiền 13.200.000 đồng, L đã chuyển hết số tiền trên để trả nợ cho một người khác. Sau đó L quay lại T2 internet, L định giấu không nói với L1 về việc cầm xe và điện thoại nhưng bị L1 truy hỏi xe và điện thoại đâu thì L nói thật đã mang đi cầm lấy tiền trả nợ. L1 không đồng ý việc L tự ý lấy tài sản đi cầm nên đã nhờ người thân đến đưa L đến Công an P, quận G để tố cáo L về hành vi chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân quận G kết luận: 01 (một) điện thoại Iphone 11 Promax, dung lượng 64GB, số imei 353889103492244, số máy MWH22LL/A có giá trị 6.266.667 đồng; 01 (một) honda W hiệu alpha, màu đen, biển số: 93H1 – 407.67 số khung: RLHJA3939PY606005; số máy: JA70E0024108 có giá trị 17.600.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 23.866.667 đồng (Hai mươi ba triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu bảy nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) điện thoại Iphone 11 Promax, dung lượng 64GB, số imei 353889103492244, số máy MWH22LL/A, của L1 đã được thu hồi.
- 01 (một) honda Wave hiệu alpha, màu đen, biển số: 93H1 – 407.67 số khung: RLHJA3939PY606005; số máy: JA70E0024108. Qua xác minh, xe do ông Phạm Văn Í cha của L1 đứng tên chủ sở hữu.
- 01 USB ghi nhận sự việc L đến tiệm C để cầm tài sản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G ra quyết định trả lại tài sản cho ông Í và L1.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là ông Phạm Văn Í và Phạm Hoàng L1 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Mạc T1 không yêu cầu bị can bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 202/CTr-VKS ngày 31/07/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Phạm Nhật L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Xử phạt bị cáo Phạm Nhât L2 từ 09 đến 12 tháng tù.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận sự việc bị cáo đến tiệm C để cầm tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Phạm Nhật L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Phạm Nhật L đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm hình phạt được quy định tại Điều 175 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng lòng tin của bị hại, cho bị cáo mượn xe honda hiệu Ware Alpha và chiếc chiếc điện thoại di động hiệu Iphone để đi mượn tiền, sau khi mượn tiền bạn không được, thì bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là chiếc xe Honda hiệu Ware Alpha và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone của bị hại, bị cáo L chạy đến tiệm cầm đồ Xuân A ở quận A để cầm cố chiếc xe honda Ware Alpha và chiếc điện thoại Iphone với giá 14.000.000 đồng để đem đi trả nợ và tiêu xài cá nhân. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại qua định giá có giá trị là 23.866.667 đồng, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Nhật L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 175 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, phù hợp theo quy định của pháp luật.
[4] Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị cáo rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng tài sản của người khác và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Tại phiên toà hôm nay, bị hại vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Phạm Văn Í đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe Honda hiệu Ware Alpha và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.
- Người liên quan là ông Mạc Văn T3 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 14.000.000 đồng mà bị cáo đã cầm cố tài sản là chiếc xe Honda hiệu Ware Alpha và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc USB ghi hình ảnh bị cáo cầm xe và điện thoại của bị hại là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.
- Đối với Ông Mạc Văn T3 là chủ tiệm cầm đồ Xuân A khi cầm cố tài sản của bị cáo L, không biết đây là tài sản do bị cáo L phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không xử lý ông T3 về tội “ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Phạm Nhật L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Nhật L 08(tám) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/05/2024.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận sự việc bị cáo đến tiệm C để cầm tài sản.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị hại vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 179/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Nhật L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
