Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ N

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2023/HSST

Ngày: 24-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thanh Tâm

Ông Đỗ Quang Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc M; sinh năm 1973 tại tỉnh Nam Định; đăng ký thường trú: số 90/223 đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: số 90 đường V, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân Th và bà Lê Thị Ch; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 07-6-1994 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 16-12-1996 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 07-12-2000 Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 11-11-2004 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 09-9-2011 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đều đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 09-6-2023, chuyển tạm giam ngày 18-6-2023; có mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn M L và ông Trần Khắc P (không triệu tập tham gia phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08-6-2023, tổ công tác Công an thành phố N phối hợp Công an phường L, Công an phường V, Công an phường Q và Công an phường N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 2/19 ngõ Cống A phường Q thành phố N phát hiện Trần Ngọc M đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; M tự giác giao nộp từ tay phải 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (M khai là Heroine mua để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Ngọc M.

Bản Kết luận giám định số 874/KL-KTHS ngày 14-6-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng mẫu: 0,161 (không phảy một trăm sáu mươi mốt) gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Ngọc M khai nhận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 08-6-2023, M đi bộ từ nhà đến ngõ A phường Q thành phố N đi đến trước cửa ngôi nhà 2 tầng, sơn màu vàng (M không nhớ số nhà) mua qua khe cửa 01 gói Heroine (không biết người bán là ai) với giá 93.000 đồng để sử dụng. M cầm gói Heroine trong tay phải đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N phối hợp với Công an phường Q, thành phố N tiến hành xác minh ngôi nhà Trần Ngọc M mua ma túy. Kết quả không có ngôi nhà nào có đặc điểm như M khai.

Bản Cáo trạng số 181/CT-VKSTPNĐ ngày 27-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Trần Ngọc M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm 1 khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc M khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Trần Ngọc M, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 874/KL-KTHS ngày 14-6-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08-6-2023, tại khu vực khu vực trước cửa số nhà 02/19 ngõ cống A phường Q thành phố N, Trần Ngọc M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,161 gam Heroine mục đích để sử dụng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09-6-2023.

  3. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 874/KL-KTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).
  4. Án phí: Bị cáo Trần Ngọc M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2023/HSST ngày 24/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 179/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Mạnh - TTMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger