|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số 179/2024/HSST Ngày 21/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng;
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Hồng Sơn
Bà Trương Hà Lê
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Nguyễn Diệu T- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại Đ cầu P xét xử trực tuyến thuộc trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội và điểm cầu phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam số 1 – Công an T5 tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/TLST - HS ngày 28/8/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thị P; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1961; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 3/10; Nơi cư trú: Số C ngõ A P, phường P, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H (đã chết); H1 và tên mẹ: Nguyễn Thị M (đã chết); Họ và tên chồng: Trần Văn T1 (đã chết); Có 02 con, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án
- Họ tên: Trình Văn T2; Giới tính: N; Sinh năm: 1997; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa : 5/12; ĐKHKTT: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: không rõ danh tính; Họ và tên mẹ: Trình Thị T3; Tiền sự: Không
* Tiền án: Ngày 20/7/1998, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 15 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt cả 02 tội là buộc chấp hành chung là 20 năm tù, phạt quản chế tại địa phương trong thời hạn 05 năm kể từ sau khi hết hạn tù và phạt tiền 40.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước (AS: 2504/HSPT). Thi hành xong hình phạt tù ngày 21/3/2012, xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự xác định Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội đã có Ủy thác đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, tuy nhiên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm không nhận được ủy thác này – án tích chưa được xóa. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.
* Nhân thân: Ngày 11/6/1981, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác – ngoài thời hiệu.
D chỉ bản số 000292, lập ngày 05/6/2024 tại Công an quận H. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/6/2024, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố T5. Có mặt tại phiên tòa.
Tiền án: Ngày 22/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (AS: 42/HSST). Thi hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2023 – án tích chưa được xóa. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.
D chỉ bản số 000292, lập ngày 05/6/2024 tại Công an quận H. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/6/2024, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố T5. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 01/6/2024, tổ công tác Công an phường P làm nhiệm vụ trên địa bàn. Khi đi đến trước cửa số nhà A P, phường P, quận H, Hà Nội thì phát hiện Trình Văn T2 đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T2 đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 gói nilông màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T2 khai số tinh thể giao nộp là Heroine T4 mua của Nguyễn Thị P tại ngõ A P, phường P, quận H, Hà Nội nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã đưa T4 cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.
Thu giữ của Trình Văn T2: 02 gói nilông màu đỏ bên trong chứa ma túy; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu VIVO màu xanh kèm sim số 0328916543, 0928329303.
Ngoài ra còn thu giữ của ông Nguyễn Văn V (sinh năm: 1965; Nơi cư trú: số C ngõ A P, phường P, quận H, Hà Nội): 04 đoạn video clip ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 4110/KLGĐ-PC09 ngày 10/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố T5 kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilông màu đỏ đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,242 gam.
Xét nghiệm T2 dương tính với chất ma túy THC, MOP. Kiểm tra điện thoại của T2 thu giữ nhiều cuộc gọi đi – đến với số điện thoại “Bà”: 0343.549.xxx. Cơ quan điều tra dẫn giải T2 đến trước cửa số nhà B ngõ A P, phường P, quận H, Hà Nội, T2 đã nhận ra Nguyễn Thị P là người đã bán ma túy cho T2. Căn cứ lời khai của T2 và các tài liệu thu thập được, cơ quan điều tra đã bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị P đồng thời khám xét khẩn cấp nơi ở của P tại số C ngõ A P, phường P, quận H, Hà Nội, kết quả không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Tại cơ quan điều tra, Trình Văn T2 khai: Khoảng 13h14' ngày 01/6/2024, T2 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị P, số điện thoại 0343.549.xxx hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine. P đồng ý và hẹn T2 đến đầu ngõ A P nhận ma túy nên T2 một mình đi bộ đến gặp P để đưa 200.000 đồng. P nhận tiền rồi đạp xe đi đâu đó, một lúc sau P quay lại đưa cho T2 02 gói nilông chứa ma túy. Lấy được ma túy, T2 cầm ở tay phải và đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đi đến trước cửa số nhà A P thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên. Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ của T2, kết quả xác minh là tài sản hợp pháp của T2 sử dụng để liên lạc với gia đình bạn bè và liên lạc với P để mua ma túy.
Ban đầu, Nguyễn Thị P khai: Khoảng 13h ngày 01/6/2024, P nhận được điện thoại từ số 0328.916.xxx nhờ mua hộ 02 gói ma túy Heroine, P đồng ý và một mình đi đến khu vực gầm cầu C. Tại đây, P nhặt được 02 gói ma túy tại chân đường nên cất giấu mang về đầu ngõ A P để cho T2. Đến ngày 02/6/2024, P thay đổi lời khai và khai: Khoảng 13h29′ ngày 01/6/2024, P gặp T2 tại ngõ A P để nhận 200.000 đồng đi mua ma túy cho T2. Nhận được tiền, P một mình đi đến gầm cầu C thì nhặt được 02 gói ma túy Heroine nên P mang về bán cho T2. Số tiền 200.000 đồng P đã sử dụng ăn tiêu hết. Xét nghiệm P dương tính với chất ma túy MOP.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã dẫn giải P xác định vị trí nhặt được ma túy, rà soát camera và nhân chứng xung quanh nhưng không xác định được là của ai. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra.
Bản cáo trạng số 175/CT-VKS, ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Nguyễn Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố Trình Văn T2 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P mức án từ 30 tháng tù đến 34 tháng tù.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trình Văn T2 mức án từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù.
- Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 02 túi nilông màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng có tổng khối lượng 0,242 gam ma túy Heroine (PC09 thu mẫu giám định : 0,047 gam, còn lại 0,195 gam ma túy Heroine).
- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu VIVO màu xanh kèm sim số 0328916543, 0928329303; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu NOKIA màu đen kèm sim số 0343549648.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải truy nộp sung quỹ Nhà nước số tiền đã bán ma túy là 200.000 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận H, TP .; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, TP .: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 01/6/2024, Trình Văn T2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,242 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng tại trước cửa số nhà A P, phường P, quận H, Hà Nội thì bị Công an phường P bắt quả tang cùng tang vật. Căn cứ lời khai của T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã xác định Nguyễn Thị P là người đã bán trái phép Heroine cho T2 tại ngõ A P, phường P, quận H, Hà Nội, P hưởng lời 200.000 đồng.
Do đó có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Thị P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trình Văn T2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại sức khỏe con người, là mầm mống của các loại tội phạm khác, nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ... trái phép chất ma túy, nhưng vì là đối tượng nghiện và hám lời nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, đối với các bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo P có 01 tiền sự ngoài thời hiệu và 01 tiền án chưa được xóa án tích, bị cáo T2 có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên các bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong được dán kín, trên các mép dán có chữ kí của đương sự Trình Văn T2, người chứng kiến Nguyễn Văn V1, cán bộ Trần Đình Đ, giám định Nguyễn Văn H2 và hình dấu tròn màu đỏ bên trong chứa ma túy thu giữ của Trình Văn T2 : 02 gói nilông màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin có tổng khối lượng 0,242 gam (P2 thu mẫu giám định : 0,047 gam, còn lại 0,195 gam).
- - Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu VIVO màu xanh đã cũ; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu NOKIA màu đen đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không kiểm tra được số Imei bên trong ; 03 sim điện thoại đã cũ.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải truy nộp sung quỹ Nhà nước số tiền đã bán ma túy là 200.000 đồng.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo P là người cao tuổi và xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trình Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trình Văn T2 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024
- Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự :
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải truy nộp sung quỹ Nhà nước số tiền đã bán ma túy là 200.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong được dán kín, trên các mép dán có chữ kí của đương sự Trình Văn T2, người chứng kiến Nguyễn Văn V1, cán bộ Trần Đình Đ, giám định Nguyễn Văn H2 và hình dấu tròn màu đỏ bên trong chứa ma túy thu giữ của Trình Văn T2 : 02 gói nilông màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin có tổng khối lượng 0,242 gam (P2 thu mẫu giám định : 0,047 gam, còn lại 0,195 gam).
- - Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu VIVO màu xanh đã cũ; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu NOKIA màu đen đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không kiểm tra được số Imei bên trong; 03 sim điện thoại đã cũ.
- (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm).
- Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị P là người cao tuổi và xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trình Văn T2 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thu P1 |
Bản án số 179/2024/HSST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 179/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
