TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 179/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/4/2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiển
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Quang Ch, Bà Nguyễn Thị Thanh Tr
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành N – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị L – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 854/2024/HNST ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Bà Trần Thị Thùy V – sinh năm 1995 (có Đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ : 1 T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn : Ông Nguyễn Tấn T – sinh năm 1995 (vắng mặt); Địa chỉ : 3 Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/7/2024, bản tự khai và tại các buổi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V trình bày : bà và ông Nguyễn Tấn T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Về quan hệ hôn nhân: ông T là người nghiện rượu, không lo làm ăn chăm sóc gia đình, bỏ mặc bà phải tự gánh vác mọi việc. Ông T và gia đình ông không có sự tôn trọng đối với bà nên tình cảm không còn, không hạnh phúc trong hôn nhân nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T. Về con chung, tài sản chung, nợ chung : bà xác nhận không có
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã tống đạt nhiều lần nhưng bị đơn ông Nguyễn Tấn T vẫn vắng mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến trình bày của ông.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trần Thị Thùy V có đơn xin xét xử vắng mặt và cam kết vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn ông Nguyễn Tấn T vẫn không đến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến chính tóm tắt như sau: Về tố tụng : Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Việc tham gia hỏi tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2023, ngày 28/7/2023 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho các đương sự thì quan hệ giữa bà Trần Thị Thùy V và ông Nguyễn Tấn T là quan hệ hôn nhân được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào Phiếu yêu cầu xác minh ngày 13/02/2025, Công an phường P xác nhận ông Nguyễn Tấn T có hộ khẩu thường trú và thực tế đang cư ngụ tại địa chỉ cụ thể thuộc quận T, thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự .
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V có đơn xin xét xử vắng mặt và cam kết không thay đổi ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân, mặc dù Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông Nguyễn Tấn T vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình : “……… 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V thì Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà Trần Thị Thùy V và ông Nguyễn Tấn T có mâu thuẫn trong hôn nhân. Bên cạnh đó, mặc dù Tòa án đã tống đạt nhiều lần nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Tấn T vẫn không đến và cũng không gửi đến văn bản nêu ý kiến cá nhân của ông. Từ đó nhận thấy ông Nguyễn Tấn T không còn tha thiết, hàn gắng mối quan hệ vợ chồng với bà Trần Thị Thùy V. Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thùy V.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Thùy V phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông Nguyễn Tấn T không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Phí và Lệ phí năm 2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V, cụ thể như sau :
- - Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Thùy V được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 114/2023, ngày 28/7/2023 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho các đương sự không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung,tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn bà Trần Thị Thùy V xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Trần Thị Thùy V phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0045123 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Thùy V đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Tấn T không phải nộp án phí. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hiển |
Bản án số 179/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 179/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
