|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 179/2025/HS-PT Ngày: 04/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Hưng
Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Bảo T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Bảo T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 14/7/2003 tại Đồng Nai.
Nơi ĐKTT: Tổ 2, ấp E, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Như trên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: tự do.
Con ông: Phạm Trung H, sinh năm 1983; Con bà: Trần Thị Bích P, sinh năm 1985.
Gia đình có 02 anh em; Bị cáo là con lớn nhất.
C sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Phạm Thị Quế T1, sinh ngày 25/11/2027; có 01 con sinh ngày 05/3/2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại
Bị hại: Cháu Phạm Thị Quế T1, sinh ngày 25/11/2007.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1985 và bà Dương Thị Kim P1, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã H (nay là xã T), huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Nội dung chính của vụ án:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2022, Phạm Bảo T quen biết và phát sinh tình cảm yêu thương với cháu Phạm Thị Quế T1, sinh ngày 25/11/2007, cư trú tại ấp A, xã H (nay là xã T), huyện V, tỉnh Đồng Nai. Đến tháng 01/2023, T1 và T về sống chung với nhau như vợ chồng và nhiều lần tự nguyện quan hệ tình dục tại nhà T thuộc ấp E, xã M, huyện V và sau đó T1 mang thai. Ngày 05/3/2024, Phạm Thị Quế T1 sinh con tại Bệnh viện Đ - Đồng Nai và đặt tên con là Phạm Hoàng L.
Trên cơ sở dữ liệu thông tin khám thai sản định kỳ do Trung tâm y tế huyện V cung cấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành xác minh xác định có dấu hiệu tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, nên đã thu thập hồ sơ, tài liệu và thụ lý giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 4841/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phân viện Kỹ thuật hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phạm Bảo T và Phạm Hoàng L có quan hệ huyết thống cha – con; Phạm Thị Quế T1 và Phạm Hoàng L có quan hệ huyết thống mẹ – con.
-
Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt Phạm Bảo T 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
-
Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 11/12/2024, bị cáo Phạm Bảo T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi vợ con.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
-
Quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về tố tụng: Bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đúng nội dung, hình thức đơn kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Bảo T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức án 03 (ba) năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng xét thấy bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới, đồng thời bị cáo phạm tội nhiều lần nên căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không đủ điều kiện xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm thể hiện: Bị cáo và Phạm Thị Quế T1 có quan hệ tình cảm với nhau. Khoảng tháng 01/2023, tại ấp E, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Phạm Bảo T đã nhiều lần giao cấu với Phạm Thị Quế T1, sinh ngày 25/11/2007 dẫn đến Trân mang thai và sinh con tên Phạm Hoàng L vào ngày 05/3/2024. Tại thời điểm giao cấu, Phạm Thị Quế T1 trên 13 tuổi và dưới 16 tuổi.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Bảo T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng bị hại còn nhỏ tuổi, thiếu khả năng nhận thức và hiểu biết để thực hiện hành vi giao cấu nhiều lần, làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, xã hội tại địa phương.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo mức án 03 (ba) năm tù (mức án thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
-
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo nhận thấy:
Trong vụ án này, bị cáo là người đã trưởng thành, phạm tội nhiều lần theo tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự nên căn cứ Điều 3 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về hưởng án treo, bị cáo không đủ điều kiện xem xét cho hưởng án treo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
-
Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
-
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ; phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Bảo T; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Phạm Bảo T 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Bảo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Lan Hương |
Bản án số 179/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 179/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị truy tố xét xử về tội giao cấu với người tử đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
