|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 179/2025/HSST Ngày: 01/4/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hạnh
Bà Nguyễn Thị Loan - Nghề nghiệp : Giáo viên.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Đào Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2025/TL - HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Sỹ T
, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2008 ; tại tỉnh Thanh Hóa;Nơi thường trú : Số nhà G, đường H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ở hiện tại : 0 Đ, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo : Không ; Số thẻ CCCD : [...] ; con ông Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 1974 và bà Mai Thị L, sinh năm 1980; vợ, con : Chưa có ; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Sỹ T: Bà Mai Thị L, sinh năm 1980 (mẹ đẻ), (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ T: Bà Lương Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
Địa chỉ: Số C, Đại lộ L, phường Đ, TP ...
-
Đoàn Thị T1
, sinh năm 1982 ; tại tỉnh Thanh Hóa;Nơi thường trú: Số nhà E, đường P, phường T (nay là phường P), TP ., tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Lô A, phường T (nay là phường P), TP ., tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo : Không; Số thẻ CCCD : [...]; con ông Đoàn Văn H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1957; có chồng : Nguyễn Hồng Q1, sinh năm 1981 ; có 02 con : con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú . Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thị T1: Ông Vũ Văn T2 và bà Lê Thị T3 - Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (vắng mặt).
Địa chỉ: L, khu nhà ở S, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
-
Nguyễn Đoàn Bảo N
, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2006 ; tại tỉnh Thanh Hóa;Nơi thường trú: Số nhà E, đường P, phường T (nay là phường P), TP ., tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Lô A, phường T (nay là phường P), TP ., tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo : Không ; Số thẻ CCCD : [...] ; con ông Nguyễn Hồng Q1, sinh năm 1981 và bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1982; chồng, con : Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N: Ông Vũ Văn T2 và bà Lê Thị T3 - Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (vắng mặt).
Địa chỉ: L, khu nhà ở S, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
* Bị hại: Nguyễn Bảo A, sinh ngày 07 tháng 01 năm 2009.
Địa chỉ: Lô A, phường T (nay là phường P), TP ., tỉnh Thanh Hóa.
Người bào chữa cho Nguyễn Bảo A là: Ông Vũ Văn T2 - Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (vắng mặt).
Địa chỉ: L, khu nhà ở S, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
-
Nguyễn Quốc Phúc H3, sinh năm 2010.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc Phúc H3: Chị Nguyễn Thị H4 (là mẹ đẻ).
Địa chỉ: Số nhà F, đường L, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
-
Nguyễn Dương Bảo D, sinh năm 2010.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Dương Bảo D: Anh Nguyễn Việt P (là bố đẻ).
Cùng địa chỉ: Số nhà D, đường N, phường N, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
-
Nguyễn Quốc Anh N1, sinh năm 2008.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc Anh N1: Chị Nguyễn Thị H4 (là mẹ đẻ).
Cùng địa chỉ: Số nhà F, đường L, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
-
Lê Mạnh D1, sinh năm 2009.
- Người đại diện hợp pháp của Lê Mạnh D1: Anh Lê Mạnh K (là bố đẻ).
Cùng địa chỉ: Số nhà A, đường C, phường L, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
-
Nguyễn Lê Thảo N2, sinh năm 2010.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Lê Thảo N2: Chị Đới Thị L1 (là mẹ đẻ).
Cùng địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường Q, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Nguyễn Quốc Phúc H3, sinh năm 2010, trú tại 0 L, P. Đ, TP T và Nguyễn Bảo A, sinh năm 2009, ở Lô G MBQH D, phường. T, TP T. Chiều ngày 28/5/2024, H3 và Bảo A nhắn tin hẹn gặp nhau trước nhà của Bảo A (đường T, phường T, nay là phường P, thành phố T) để nói chuyện. Khoảng 20h30' cùng ngày, Nguyễn Quốc Phúc H3 ngồi sau xe máy điện do Nguyễn Dương Bảo D, sinh năm 2010, trú tại D N, P. N, TP T điều khiển, cùng đi còn có Nguyễn Quốc Anh N1, sinh năm 2008, trú tại số nhà F L, P. Đ, TP T điều khiển xe máy điện chở Nguyễn Sỹ T; Phạm Thảo H5, sinh năm 2010, trú tại số nhà C Chung cư M, P. Đ, TP T điều khiển xe điện chở Nguyễn Huyền T4, sinh năm 2010, trú tại 1 L, P. Đ, TP T; Lê Mạnh D1, sinh năm 2009, trú tại A C, P. L, TP T điều khiển xe điện chở Nguyễn Lê Thảo N2, sinh năm 2010, trú tại 1 H, P. Q, TP T, khi đến khu vực trước nhà của Nguyễn Bảo A (đường T, phường P). Thấy Bảo A đang đi xe đạp điện trước nhà, đồng thời Bảo A cũng nhìn thấy H3 nên xuống xe, chạy lại dùng tay đấm vào người H3 làm H3 ngã ra đường. H3 đứng dậy dùng tay đánh lại Bảo A thì Nguyễn Đoàn Bảo N (chị gái Bảo A) chạy từ trong nhà ra dùng mũ bảo hiểm (kiểu mũ thời trang), cùng Bảo A đập vào người H3. Thấy H3 bị đánh Nguyễn Sỹ T và nhóm bạn vào can ngăn, còn H3 bỏ chạy ra giải phân cách cứng trước nhà Bảo A. Khi T vào can ngăn thì Bảo N quay sang dùng tay chân đánh T, còn Bảo A lùa theo H3, sau đó quay lại đánh T, T và Bảo A đánh nhau. H3 chạy lại xe điện do Bảo D điều khiển, mở cốp xe lấy 01 (một) con dao bằng kim loại (dạng dao bầu) chạy lại đánh nhau với Bảo A thì Bảo N cùng mẹ là Đoàn Thị T1 và Nguyễn Hồng Q1 (bố của Bảo N) cùng một số người chạy theo yêu cầu H3 bỏ dao nên H3 tự vứt dao xuống đường, khi H3 vừa vứt dao, Bảo N xông lại dùng tay đánh H3 còn Bảo A xông vào đạp H3 ngã xuống đường, Đoàn Thị T1 dùng mũ bảo hiểm (kiểu mũ thời trang) đánh vào người H3 2-3 cái. Nguyễn Hồng Q1 (bố của Bảo A) yêu cầu H3 và T vào ghế trên vỉa hè trước nhà Bảo A để nói chuyện. Trong lúc đang nói chuyện thì giữa T và Bảo A tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Bảo N dùng tay, T1 dùng mũ bảo hiểm cùng Bảo A đánh T. T đánh nhau với Bảo A thì bị thương tại phần đuôi mắt trái nên bỏ chạy, Bảo A và Bảo N đuổi theo một đoạn nhưng không được nên quay lại. Sau khi có lực lượng Công an đến thì sự việc dừng lại.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, Nguyễn Sỹ T bị các vết thương gồm: 01 (một) vết rách da chảy máu tại vùng đuôi lông mày trái, bờ mép sắc gọn, kích thước dài 0,5cm; 01 (một) vết trầy xước da có rỉ máu tại vai trái, kích thước dài 2,5cm; 02 (hai) vết xước dài 06cm mặt sau cổ trái.
Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 655/KLTTCT-PYTH ngày 31/7/2024 của Trung tâm P, kết luận: Tại thời điểm giám định, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Sỹ T là 04% (bốn phần trăm); các vết thương của Nguyễn Sỹ T là do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh gây nên.
- Nguyễn Quốc Phúc H3 bị một số thương tích gồm: 01 vết xước da rỉ máu sau lưng, gần bả vai trái, dài 03cm; các vết xước da, bầm tím không rõ hình dạng, kích thước sau gáy cổ trái.
Nguyễn Bảo A bị thương tích gồm: 01 (một) vết xây xước da không liên tục tại mặt trước trong gối phải, kích thước trong diện (9x8)cm, vết có chiều từ trước về sau, hơi chếch trái sang phải; 01 (một) vết rách da tại vùng chẩm trái, kích thước trong diện (0,2x0,5)cm, vết có chiều từ trái qua phải, hơi chếch từ sau về trước, bờ mép vết sắc gọn; vết trầy xước, rách da tại mu bàn tay phải, kích thước trong diện (01x0,3)cm, không rõ chiều hướng vết do về mặt vết đã khô, vùng da, cơ xung quanh bề mặt vết sưng nề; mu bàn chân phải sưng nề.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 560/KLTTCT-PYTH ngày 22/7/2024 của Trung tâm P, kết luận: Tại thời điểm giám định, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Bảo A là 13% (mười ba phần trăm); các vết thương của Nguyễn Bảo A là do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc gây nên.
Kết luận giám định bổ sung số 20A/KLTTCT-PYTH, Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Các chấn thương vùng bàn tay phải, gây hậu quả gãy đầu bàn ngón 1; vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng mặt trước, trong gối phải; sẹo vết thương phần mềm vùng mu bàn II, bàn tay phải, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Bảo A là 12%.
Đối với thương tích tại vùng chẩm trái, kích thước trong diện (0,2x0,5)cm, vết có chiều từ trái qua phải, hơi chếch từ sau về trước, bờ mép vết thương sắc gọn (giám định 01 %) của Nguyễn Bảo A. Do Nguyễn Sỹ T dùng tay chân đánh nhau với Bảo A, quá trình điều tra không xác định được nguyên nhân hình thành vết thương này, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
- Ngày 15/10/2024, Cơ quan CSĐT – C Quyết định trưng cầu giám định số 4104/QĐ-ĐTTH về việc giám định kỹ thuật số, điện tử đối với 02 (hai) tệp video đã được niêm phong lưu giữ hành ảnh liên quan đến vụ án. Tại Kết luận giám định số 4139/KL-KTHS ngày 31/10/2024, của Phòng K1 - Công an tỉnh T, kết luận: không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định.
Về vật chứng: Vật chứng củavụ án gồm là 02 (hai) mũ bảo hiểm (kiểu mũ thời trang) màu trắng và đen; 01 (một) con dao bằng kim loại (dạng dao bầu) dài 30cm, lưỡi dao sắc nhọn dài 19cm, cán dao bọc gỗ dài 11cm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 95/Ctr-VKSTPTH ngày 18/02/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá truy tố; Nguyễn Sỹ T về tội: Cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N về tội: Gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134 ; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 – BLHS . Khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên (đối với bị cáo Nguyễn Sỹ T).
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 - BLHS (đối với bị cáo Đoàn Thị T1).
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 ; Điều 36 ; Điều 91 ; Điều 101 - BLHS (đối với bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sỹ T từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị T1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N từ 09 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ.
Về bồi thường dân sự: Bị cáo Nguyễn Sỹ T và người đại diện hợp pháp là bà Đoàn Thị T1 (mẹ đẻ Nguyễn bảo A) đã thỏa thuận bồi thường tiền chi phí điều trị thương tích cho cháu Bảo A tổng số tiền là 30.000.000 đồng, gia đình Bảo A đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo T.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn sỹ T, Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ T: Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo T, bị cáo khi phạm tội chưa đủ tuổi thành niên, do sự phát triển con người chưa đầy đủ nên hạn chế về năng lực hành vi lúc phạm tội, bị cáo T có ông nội được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang và bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Về dân sự gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả và gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị hại cháu Nguyễn Bảo A: Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Sỹ T. Về dân sự gia đình bị hại và gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo T.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N: Thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Bị cáo T1 và bị cáo N thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T1 và bị cáo N.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận: Do mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 20h ngày 18 tháng 5 năm 2024 tại khu vục ngã 3 đường N giao nhau với đường T, phường T (nay là phường P) thành phố T, Nguyễn Đoàn Bảo N cùng với Đoàn Thị Thúy L2 đuổi, dùng mũ bảo hiểm (loại mũ thời trang) đánh nhau với Nguyễn Sỹ T và Nguyễn Phúc Quốc H6 sinh năm 2010, trú tại số nhà F L, P. Đ, TP T. Nguyễn Sỹ T dùng tay, chân đánh nhau với Nguyễn Bảo A, sinh ngày 07/01/2009, hậu quả Nguyễn Bảo A bị tổn hại 12% sức khỏe.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khảng định: Hành vi phạm tội của Nguyễn Sỹ T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N đã phạm vào tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại khoản 1, Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn ở nơi công cộng, gây mất an ninh, trật tự của thôn, xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho các công nhân và quần chúng nhân dân tại địa phương, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Đối với bị cáo T đã xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hậu quả là cháu Nguyễn Bảo A mất 12% sức khỏe, do đó cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Sau khi cháu Bảo A bị thương, gia đình bị cáo T đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền là 10.000.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/24 số 0000875 ngày 04/3/2025.
[5] Xét về vai trò của bị cáo trong vụ án: Bị cáo Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công nhiệm vụ, cả hai đều thực hiện hành vi như nhau, nên T1 và N giữ vai trò ngang nhau trong vụ án.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Sỹ T, Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Sỹ T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo khi phạm tội chưa đủ tuổi thành niên, do sự phát triển con người về sinh học và xã hội chưa đầy đủ nên hạn chế về năng lực hành vi lúc phạm tội, do đó nên áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là phù hợp. Gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Bảo A tổng số 30.000.000 đồng gia đình Nguyễn Bảo A đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, bị cáo T có ông nội được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang và bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, nên áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51-BLHS (đối với bị cáo T). Đối với bị cáo Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T1 có bà nội là mẹ Việt Nam anh hùng, bị cáo N có bà cố là mẹ Việt Nam anh hùng, nên áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51- BLHS (đối với bị cáo T1 và bị cáo N) . Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đối với bị cáo N khi phạm tội chưa đủ tuổi thành niên, do sự phát triển con người về sinh học và xã hội chưa đầy đủ nên hạn chế về năng lực hành vi lúc phạm tội, do đó nên áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo. Vì vậy xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo T, bị cáo T1 và bị cáo Bảo N khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo T và bị cáo T1, giao bị cáo T và bị cáo T1 cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo để bị cáo trở thành công dân tốt. Đối với bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, do bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[7] Về bồi thường dân sự: Gia đình Nguyễn Sỹ T và gia đình Nguyễn Bảo A đã tự thỏa thuận bồi thường chi phí điều trị thương tích cho Bảo A tổng số tiền là 30.000.000 đồng, gia đình Bảo A đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét. Gia đình cáo T và gia đình bị hại đã thống nhất bồi thường xong, nên bị cáo được nhận lại số tiền mà gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T số tiền là 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/24 số 0000875 ngày 04/3/2025.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 ; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 ; Điều 91; Điều 101 – BLHS. Khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên (đối với bị cáo Nguyễn Sỹ T).
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 ; Điều 65 - BLHS (đối với bị cáo Đoàn Thị T1).
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 ; Điều 36 ; Điều 91; Điều 101 - BLHS (đối với bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N).
Khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, khoản I mục 1 Danh mục án phí, lệ phí (ban hành kèm theo nghị quyết số 326/2016/UB TVQH 14 ngày 30/12/2016) của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sỹ T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị T1 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự C1 Hoá nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N.
Giao bị cáo Nguyễn Sỹ T cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Sỹ T cho Công an phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đoàn Thị T1 cho UBND phường T (nay là phường P), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đoàn Thị T1 cho Công an phường T (nay là phường P), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N cho UBND phường T (nay là phường P), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Nguyễn Đoàn Bảo N cho Công an phường T (nay là phường P), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
- Về bồi thường dân sự: Phần dân sự đã giải quyết xong.
Bị cáo Nguyễn Sỹ T được nhận lại số tiền mà gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T số tiền là 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/24 số 0000875 ngày 04/3/2025.
Về vật chứng :
Tịch thu tiêu huỷ :
- - 02 mũ bảo hiểm (dạng mũ thời trang) màu trắng và màu đen.
- - 01 con dao bằng kim loại, chiều dài 30 cm, phần lưỡi dao dài 19 cm, cán dao bọc gỗ dài 11 cm.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ T, Đoàn Thị T1 và Nguyễn Đoàn Bảo N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và Luật sư vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Hà |
Bản án số 179/2025/HSST ngày 01/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 179/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
