|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN ————— Bản án số: 179/2024/HSST Ngày: 21/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên (CĐ) và bà Hoàng Thị Khánh
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2024/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-QĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Đỗ Văn M; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 24/7/1987, tại huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Đỗ Đình T, đã chết; Họ tên mẹ: Lê Thị T1, sinh năm: 1966; Anh chị, em ruột: Gia đình có 3 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến ngày 07/11/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Các bị hại:
- Bà Hồ Thị Q1, sinh năm 1964 (đã chết)
- Cháu Đoàn Minh Q2, sinh năm 2022 (đã chết)
- Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1995 (có đơn xin vắng mặt)
Trú tại: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
- Đại diện hợp pháp của các bị hại:
- Ông Đoàn Văn Q3, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt)
- Anh Đoàn Đức H, sinh năm 1995 (có mặt)
Đều trú tại: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Danh L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Trú tại: khu D, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn M có giấy phép lái xe hạng E, FC theo quy định, vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 10/6/2024, Đỗ Văn M điều khiển xe ô tô nhãn hiệu CNHTC, loại xe đầu kéo, sơn màu xanh, mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc tải có mui nhãn hiệu CIMC, sơn màu xanh, mang biển kiểm soát 36R - 017.37 xuất phát từ thành phố Hải Phòng đến huyện D, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 08 giờ 37 phút ngày 11/6/2024, khi đi đến Ngã tư thị trấn D, huyện D (Đường Q giao với đường Q), M điều khiển xe ô tô kéo theo sơ mi rơ moóc trên rẽ phải để chuyển hướng từ phần đường phía Tây đường Q sang đường Q, chiều hướng B - Đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều khiển xe ô tô kéo theo sơ mi rơ moóc chuyển hướng, Đỗ Văn M đã thực hiện không đúng quy định nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe SHMODE, sơn màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 do bà Phạm Thị T2 (sinh năm 1995, trú tại xóm F, xã D, huyện D) điều khiển chở theo sau bà Hồ Thị Q1 (sinh năm 1964) và cháu Đoàn Minh Q2 (sinh năm 2022, đều trú cùng xóm với bà T2) đang di chuyển phía trước, chiều hướng Bắc Nam. Hậu quả, bà Phạm Thị T2, bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2 bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện từ ngày 10/6/2024, cùng ngày, bà Hồ Thị Q1 tử vong, đến ngày 26/6/2024, cháu Đoàn Minh Q2 tử vong.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã thành lập Hội đồng khám nghiệm và tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ, trưng cầu giám định, kết quả như sau:
* Kết quả trưng cầu giám định dấu vết cơ học:
Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 907/QĐ-ĐTTH để trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định dấu vết cơ học. Tại Bản kết luận giám định số 201/KL-KTHS(DVCH) ngày 29/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận:
Xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 có va chạm với chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41:
a. Ngay trước thời điểm xảy ra va chạm:
- Chiều hướng di chuyển:
+ Xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 di chuyển theo hướng từ huyện Q đi thành phố V.
+ Xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 di chuyển theo hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải so với hướng di chuyển của xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 (Hướng từ Quốc lộ A rẽ phải vào Quốc lộ G).
- Phần đường di chuyển: Xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 và xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 đều di chuyển trên góc T ngã tư giao nhau giữa đường Q và Quốc lộ G.
- Không đủ cơ sở để xác định làn đường di chuyển của xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 và xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41.
b. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 với xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 trên hiện trường: Ở góc T ngã tư giao nhau giữa đường Q và Quốc lộ G.
c. Vị trí va chạm đầu tiên trên phương tiện:
- Trên xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41: Ở phần phía sau bên trái xe, chiều hướng dấu vết va chạm từ sau ra trước, từ trái qua phải.
- Trên xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37: Ở mặt trước bên phải đầu xe, chiều hướng dấu vết va chạm từ trước ra sau, từ phải qua trái.
d. Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 và xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm.
* Kết quả trưng cầu giám định pháp y:
Ngày 11/6/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 852/QĐ-ĐTTH để trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định nguyên nhân tử vong của bà Hồ Thị Q1. Tại Bản kết luận giám định tử thi số 42/KLGĐTT-TTPY ngày 09/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N đã kết luận: Nạn nhân Hồ Thị Q1 tử vong do suy tuần hoàn, suy hô hấp/đa chấn thương.
Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1012/QĐ-ĐTTH để trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định nguyên nhân tử vong của cháu Đoàn Minh Q2. Tại Bản kết luận giám định tử thi số 48/KLGĐTT-TTPY ngày 12/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N đã kết luận: Do gia đình có đơn từ chối giải phẫu tử thi nên chúng tôi không có căn cứ để kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Đoàn Minh Q2.
Ngày 19/7/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1191/QĐ-ĐTTH để trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định nguyên nhân tử vong của cháu Đoàn Minh Q2 (Qua hồ sơ). Tại Bản kết luận giám định tử thi trên hồ sơ số 42/KLTTHS-TTPY ngày 02/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N đã kết luận: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Đoàn Minh Q2 là do suy tuần hoàn, suy hô hấp/đa chấn thương, chấn thương sọ não.
Ngày 12/9/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1588/QĐ-ĐTTH để trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị Tuyết . Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 492/KLTTCT-TTPY ngày 19/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N đã kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị T2 tại thời điểm giám định là 03 % (Ba phần trăm).
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ có đủ cơ sở xác định:
Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông đường bộ trên là do Đỗ Văn M điều khiển xe ô tô kéo theo sơ mi rơ moóc chuyển hướng không đúng quy định nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô do bà Phạm Thị T2 điều khiển chở theo sau bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2 đang di chuyển phía trước, chiều hướng Bắc Nam. Hậu quả, bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2 tử vong, bà Phạm Thị T2 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03 %.
Bản cáo trạng số 202/CT-VKS-DC ngày 08 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Đỗ Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 260 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm đ khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường dân sự: Sau tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân, bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về mặt dân sự.
- Án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội thực hiện đúng như cáo trạng truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án và diễn biến khách quan của vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 8 giờ 37 phút ngày 10/6/2024, tại Ngã tư thị trấn D, huyện D (km 424 + 950m Đường Q giao với km 00 đường Quốc lộ 7) thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Đỗ Văn M có giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC hợp pháp theo quy định, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu CNHTC mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc tải mang biển kiểm soát 36R - 017.37. Do chuyển hướng không đúng quy định, thiếu quan sát nên đã gây tai nạn với xe mô tô HONDA SHMODE mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 do bà Phạm Thị T2 điều khiển chở theo sau bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2. Hậu quả, bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2 bị thương nặng sau đó tử vong, bà Phạm Thị T2 bị thương. Hành vi tham gia giao thông của bị cáo đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Kết luận giám định pháp y về tử thi, Kết luận giám định dấu vết cơ học; lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra xác định: Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông đường bộ trên là do Đỗ Văn M điều khiển xe ô tô kéo theo sơ mi rơ moóc chuyển hướng không đúng quy định nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô do bà Phạm Thị T2 điều khiển chở theo sau bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2 đang di chuyển phía trước, chiều hướng Bắc Nam. Hậu quả, bà Hồ Thị Q1 và cháu Đoàn Minh Q2 tử vong, bà Phạm Thị T2 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03 %. Hành vi của Đỗ Văn M đã vi phạm quy định tại Khoản 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ, đồng thời đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong tình hình hiện nay các hành vi vi phạm quy định về giao thông vận tại đang được các cơ quan chức năng kiên quyết xử lý. Bị cáo điều khiển xe ô tô thiếu quan sát, chuyển hướng khi tham gia giao thông, không đảm bảo an toàn nên đã gây hậu quả nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn là của bị cáo nên cần xử lý nghiêm bị cáo mới đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4]. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; quá trình điều tra, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn đã chủ động bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Bởi vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng ổn định, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú vì vậy nghĩ chưa cần thiết phải cách ly xã hội mà áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ niềm tin để bị cáo sửa mình, cải tạo thành người tốt, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng: không có.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5, điều 260 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, trả lại Giấy phép lái xe số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/01/2024 cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[6]. Xử lý phương tiện, tài liệu, đồ vật, liên quan: - Xe ô tô mang biển kiểm soát 36C - 106.64 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 36R - 017.37 có va chạm với chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Danh L, sinh năm 1984, trú tại khu D, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe SHMODE, sơn màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 37F2 - 681.41 hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị T2 (sinh năm 1995, trú tại xóm F, xã D, huyện D) nên miễn xét.
[7]. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyền đền bù thiệt hại cho gia đình các bị hại số tiền 440.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn M 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/11/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với UBND xã (phường) khi có yêu cầu. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Trả lại Giấy phép lái xe số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/01/2024 cho bị cáo Đỗ Văn M khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2/ Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 179/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 179/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
