|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 179/2024/HS-ST Ngày 19 – 11 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-------------------------
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Thành
2. Bà Vũ Thị Luyến
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/10/1995, tại: Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Văn V, sinh năm 1968; con bà: Sạch Thị P, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 01, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 04/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Triệu Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 15/02/2022 đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/6/2024 đến ngày 22/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Văn V, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Hà Văn M, sinh năm 1979; Nơi cư trú: TDP G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Ông Hà Văn T1, sinh năm 1977; Nơi cư trú: TDP G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 40 phút ngày 13/06/2024, Tổ công tác của Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một đối tượng Triệu Văn T đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 97B1-072.58 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T khai nhận đang cất giấu ma túy trong người và tự lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra một bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục là chất ma túy loại Heroine, T vừa mua được với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ chiếc xe mô biển kiểm soát 97B1-072.58 và niêm phong vật chứng thu giữ rồi đưa T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong cân khối lượng số chất rắn dạng cục màu trắng đục thu giữ của Triệu Văn T được 0,234 gam (niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định).
Tại bản Kết luận giám định số: 726/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Chất rắn dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine... khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,234 gam”.
Quá trình điều tra, Triệu Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, T có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 97B1-072.58 đi từ nhà trọ thuộc phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực cống chui đường C - Thái Nguyên thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P để mua ma túy. Khi đến nơi T đứng chờ một lúc thì thầy có một người nam giới đi xe máy hay bán ma túy cho các đối tượng nghiện. T hỏi mua của người này 01 gói ma túy Heroine với số tiền 100.000 đồng thì người này đồng ý. T đưa cho người này số tiền 100.000 đồng thì người này đưa lại cho T một bao thuốc lá ngựa, bên trong có 01 túi nilon có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục là ma túy loại Heroine, rồi người này điều khiển xe đi trước. Mua được ma túy T cất vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc chuẩn bị điều khiển mô tô ra về nhưng chưa kịp thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra. Tuyên tự nguyện giao nộp bao thuốc lá có chưa ma túy bên trong cho lực lượng Công an. Mục đích T tàng trữ ma tuý là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác.
Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 97B1-072.58, xe đã qua sử dụng có số khung: RLCS5C630BY500458, số máy: 5C63-500485, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Triệu Văn V (sinh năm 1968; trú tại thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn). Việc Triệu Văn T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy thì sử dụng; ông V không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông V quản lý, sử dụng.
- 01 bì niêm phong ký hiệu K1 bên ngoài có ghi hoàn trả 0,218 gam mẫu K1 và vỏ bao gói sau giám định; Mẫu lưu kho niêm phong ký hiệu L được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 168/CT-VKSPY ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 168/CT-VKSPY ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo Triệu Văn T
-
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,218 gam mẫu K1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L, ghi mẫu lưu kho.
Ngoài ra, còn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo Triệu Văn T:
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt bổ sung, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến các yếu tố như: bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế. Mặt khác, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Từ những cơ sở trên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng, nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát cũng như người bào chữa cho bị cáo.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Văn T tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng ... và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, tại khu vực tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Triệu Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,234 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân bị cáo thì bị Tổ công tác của Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, bản Cáo trạng số: 168/CT-VKSPY ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Quá trình trình sống tại địa phương bị cáo đã từng bị kết án về tội phạm liên quan đến ma túy cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 04/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Triệu Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó bị cáo là người có nhân thân xấu
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Xét quan điểm giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:
“...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”
Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[7]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo theo quy định.
[8]. Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,218 gam mẫu K1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L, ghi mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 97B1- 072.58, xe đã qua sử dụng có số khung: RLCS5C630BY500458, số máy: 5C63-500485, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Triệu Văn V (sinh năm 1968; trú tại thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn). Việc Triệu Văn T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy thì sử dụng; ông V không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông V quản lý, sử dụng là phù hợp.
[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[10]. Về các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy Heroine, Triệu Văn T khai mua của một người nam giới (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
-
Về hình phạt:
2.1 Hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
2.2 Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
-
Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Quyết định tạm giam bị cáo Triệu Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.
-
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,218 gam mẫu K1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L, ghi mẫu lưu kho. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 22/10/2024)
-
Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Văn T.
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Triệu Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |
Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 179/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
