Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2024/HSST

Ngày 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Xuân Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoà

Ông Luân Văn Lý.

Thư ký phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thị M - sinh ngày 10 tháng 02 năm 1980 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M1 - sinh năm 1958 và bà Linh Thị X - sinh năm 1955 (cùng địa chỉ: Tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Anh chị em ruột: Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Đoàn Đức C - sinh năm 1979 (địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Có 01 con sinh năm 1999;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 25/04/2017 Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Ngày 12/08/2021 Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Đoàn Đức C; sinh ngày 03 tháng 01 năm 1979 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Xuân C1 - sinh năm 1953 (địa chỉ: thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) và con bà Đoàn Thị N - sinh năm 1952 (địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị M - sinh năm 1980 (địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Có 01 con sinh năm 1999;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 11/06/2024 đến nay; Có mặt tại phiên tòa

- Người làm chứng:

  1. Nông Khánh T - sinh năm 1977 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ F, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  2. Hoàng Thị S - sinh năm 1955 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  3. Ngô Văn T1 - sinh năm 1960 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ E, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  4. Nguyễn Văn S1 - sinh năm 1985 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ 02, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
  5. Đoàn Văn T2 - sinh năm 1987 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ 05, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
  6. Hoàng Ích T3 - sinh năm 1975 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  7. Đàm Thị D - sinh năm 1956 (Vắng mặt tại phiên toà) Địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 04/06/2024, tổ công tác Đ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thị M và Đoàn Đức C có hành vi mua bán các số lô, số đề trái phép.

Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng bao gồm:

Một tập giấy, khổ giấy 8x10 cm gồm 25 tờ giấy trắng; trên mỗi tờ giấy có in chữ “Ngày ....tháng...năm 20...” được đánh số thứ tự từ 01 đến 25 có chữ ký xác nhận của Đoàn Đức C.

Một tờ giấy than màu xanh có in chữ “G-STAR GIẤY THAN” được phát hiện và thu giữ trong tập giấy 25 tờ nói trên;

Tiền Việt Nam: 133.000 (một trăm ba mươi ba nghìn đồng)

Những đồ vật, tài liệu, tài sản trên được phát hiện, thu giữ trên bàn trước mặt nơi Đoàn Đức C đang ngồi.

Thu giữ đối với Nguyễn Thị M một túi xách bằng vải màu đen, bên trong có:

26 (hai mươi sáu) tờ giấy có kích thước khác nhau, có ghi các chữ và số được đánh số thứ tự từ 01 đến 26 có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị M, theo bị cáo khai nhận đây là các tờ “cáp đề” mà các bị cáo bán số lô, số đề trái phép cho khách trong ngày 04/6/2024.

Tiền Việt nam: 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng).

Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 màu xanh tím than có số IMEI (1) 866155055438514; IMEI (2): 866155055438506 điện thoại lắp sim số 0862.131.xxx, điện thoại đã qua sử dụng.

01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 353814087259757, được lắp sim số: 0385 953 669, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Hồi 19 giờ 20 phút cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét nơi ở của Đoàn Đức C và Nguyễn Thị M thu giữ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng vàng, được lắp sim số: 0972 650 396 của Đoàn Đức C.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Từ tháng 4/2024 đến ngày 04/6/2024 Nguyễn Thị M và Đoàn Đức C cùng nhau thực hiện việc mua bán các số lô, số đề trái phép cho khách tại khu vực vòng xuyến K thuộc tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Các bị cáo bán số lô, số đề cho khách bằng hình thức ghi các số lô, số đề vào một tờ giấy trắng gọi là "cáp đề" đã chuẩn bị từ trước, sau đó in giấy than vào tờ giấy cáp đề khác, một bản đưa cho khách, một bản giữ lại để M tổng hợp gửi đi cho chủ đề và lưu lại làm căn cứ trả thưởng. Ngoài ra, M còn sử dụng chiếc điện thoại OPPO A37 lắp sim số 0862.131.308 để nhận số lô, số đề trái phép cho khách qua tin nhắn trên điện thoại di động và ứng dụng Zalo.

Hình thức chơi số đề như sau: Người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số đề mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng theo tỉ lệ gấp 70 lần số tiền đã mua. Nếu khách không trúng đề thì sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua số đề. Khi thu tiền của khách mua số đề Nguyễn Thị M thu 80% số tiền khách mua số đề và trích lại 20% cho khách chơi. Số tiền thu được từ bán số đề Nguyễn Thị M chuyển 73% cho chủ đề và hưởng lợi 7% từ tổng số tiền thu được.

Hình thức chơi số lô như sau: Người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số lô người chơi mua trùng với hai số cuối của một trong 27 Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) trên 01 điểm lô, nếu không trúng sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô, số đề. Khi bán số lô Nguyễn Thị M thu của khách 23.000 đồng/1 điểm lô và chuyển cho chủ lô là 22.000 đồng/1 điểm lô, Nguyễn Thị M hưởng lợi 1.000 đồng/ 1 điểm lô.

Hình thức chơi lô xiên: Khách tùy chọn các số lô và có thể chơi lô xiên 2, xiên 3, Nếu các số lô xiên khách mua trùng với hai số cuối của một trong 27 Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng, lô xiên 2 trúng thưởng sẽ được trả thưởng theo tỉ lệ 1 ăn 10 (gấp 10 lần số tiền khách bỏ ra mua số lô xiên 2); Lô xiên 3 trúng thưởng sẽ được trả thưởng theo tỉ lệ 1 ăn 40 (gấp 40 lần số tiền khách bỏ ra mua số lô xiên 3). Khi thu tiền của khách mua số lô xiên Nguyễn Thị M thu đủ số tiền khách mua và chuyển 80% cho chủ đề và hưởng lợi 20% từ tổng số tiền thu được.

Trong ngày 04/06/2024, các bị cáo đã ghi số lô, số đề cho 32 (ba mươi hai) chơi qua cáp đề và tin nhắn điện thoại với tổng số tiền là 27.572.000 đồng trong đó xác định được 07 người chơi, cụ thể:

  1. Nông Khánh T (sinh năm 1977; Trú tại: tổ F phường Đ, thành phố C) ghi số lô, số đề qua tin nhắn trên ứng dụng Zalo với tổng số tiền 745.000đ (bảy trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
  2. Hoàng Thị S (sinh năm 1955; Trú tại: tổ G, phường Đ, thành phố C) ghi số lô, số đề qua cáp đề với tổng số tiền 905.000đ (chín trăm linh năm nghìn đồng).
  3. Ngô Văn T1 (sinh năm 1960; Trú tại: tổ E, phường Đ, thành phố C) ghi số lô qua tin nhắn điện thoại di động với tổng số tiền 920.000đ (chín trăm hai mươi nghìn đồng).
  4. Nguyễn Văn S1 (sinh năm 1985; Trú tại: tổ B, phường Đ, thành phố C) ghi số lô, số đề qua cáp đề với tổng số tiền là 175.000đ (một trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng).
  5. Đoàn Văn T2 (sinh năm 1987; Trú tại: tổ E, phường Đ, thành phố C) ghi số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại di động với tổng số tiền 4.313.000đ (bốn triệu ba trăm mười ba nghìn đồng).
  6. Hoàng Ích T3 (sinh năm 1975; Trú tại: tổ G, phường Đ, thành phố C) ghi số đề qua tin nhắn điện thoại di động với tổng số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  7. Đàm Thị D (sinh năm 1956; Trú tại: tổ G, phường Đ, thành phố C) ghi số đề qua tin nhắn điện thoại di động với tổng số tiền 4.000.000₫ (bốn triệu đồng).

Với hành vi và chứng cứ như trên Bản cáo trạng số 164/CT-VKSTP ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M, Đoàn Đức C về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị M khai nhận từ tháng 01/2024 bị cáo đăng ký làm đại lý xổ số kiến thiết bán vé số số cho Công ty S2. Đến khoảng tháng 4/2024 có một người đàn ông tên là H khoảng 32 tuổi nhà ở phường H, thành phố C đến gặp bị cáo M để đặt vấn đề bán số lô, số đề trái phép. Với mục đích hưởng lợi nên bị cáo đã ghi số lô, số đề trái phép và hàng ngày chuyển số lô, số đề cho người tên là H qua ứng dụng điện thoại. Còn việc giao dịch tiền thì khoảng 16 giờ hằng ngày người đàn ông nói trên sẽ đến bàn ghi sổ xố của bị cáo để thanh toán trực tiếp bằng hình thức đưa tiền mặt tiền thắng thua của ngày hôm trước với bị cáo. Hằng ngày khoảng 17h chồng của bị cáo là Đoàn Đức C có ra giúp bị cáo ghi số lô số đề, việc bị cáo chuyển bảng đề cho ai bị cáo C không biết, việc bị cáo nhận số lô số đề qua điện thoại bị cáo C cũng không biết, việc mua bán số lô số đề được hai vợ chồng cùng nhau thực hiện và số tiền hưởng lợi được sử dụng để chi tiêu chung cho hai vợ chồng.

Bị cáo không nhớ chính xác tổng số tiền đánh bạc nhưng xác nhận được cùng cán bộ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng tính toán số tiền, đã xem lại và ký xác nhận vào các bảng kê chi tiết số lô, số đề. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình, chiếc điện thoại di động OPPO A37 của bản thân bị cơ quan công an thu giữ đã sử dụng vào việc nhận, chuyển số lô, số đề trái phép. Số tiền cơ quan điều tra đã thu giữ lúc bắt giữ là 6.433.000 đồng, trong đó có 133.000 đồng thu giữ trên bàn trước mặt của bị cáo C là có từ việc bán sổ số nhà nước không liên quan đến hành vi phạm tội. Những giấy tờ liên quan đến những lần ghi số lô, số đề trước bị cáo đã tiêu huỷ hết những cáp đề và xoá hết tin nhắn trên điện thoại. Chiếc điện thoại di động Iphone 7 bị thu giữ là của bị cáo sử dụng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo đối với chiếc túi xách bị cáo không đề nghị được trả lại. Ngoài việc ghi số lô, số đề bị cáo còn làm nhiều công việc khác, có tài sản riêng, gia đình bị cáo có khu nhà trọ để cho thuê, thu nhập hàng tháng ổn định. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền, trong thời gian chờ vụ án được đưa ra xét xử bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng vào cơ quan thi hành án để chứng minh cho khả năng thi hành án.

Bị cáo Đoàn Đức C khai nhận tại phiên toà: Hàng ngày bị cáo có ra giúp vợ là Nguyễn Thị M ghi số lô số đề trái phép, bị cáo cùng bị cáo M thay nhau ghi số lô, số đề cho khách, việc tổng hợp bảng đề và tiền do bị cáo M thực hiện. Việc giao bảng đề cho ai bị cáo C không biết. Bị cáo thừa nhận số tiền như cơ quan điều tra tính toán là chính xác. Đối với số 3 càng bị cáo ghi vào bảng để gửi cho công ty sổ xố, không chuyển cho chủ đề. Việc hưởng lợi bao nhiêu thì bị cáo không rõ. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền, trong thời gian chờ vụ án được đưa ra xét xử bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng vào cơ quan thi hành án để chứng minh cho khả năng thi hành án

Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ là tài sản cá nhân của bị cáo sử dụng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Người làm chứng Nông Khánh T, Hoàng Thị S, Ngô Văn T1, Nguyễn Văn S1, Đoàn Văn T2, Hoàng Ích T3 và Đàm Thị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đều phù hợp với lời khai của các bị cáo Nguyễn Thị M, bị cáo Đoàn Đức C và nội dung vụ án.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị M, Đoàn Đức C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M mức hình phạt tiền từ 65.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Đức C mức hình phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam: 6.300.000đ thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị M;

- Hoàn trả lại cho bị cáo Đoàn Đức C số tiền 133.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội

Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền Việt Nam: 6.433.000,đ vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 43 ngày 23/10/2024.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước:

01 (một) điện thoại di động (loại màn hình cảm ứng), nhãn hiệu OPPO A37, màu xanh tím than, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 866155055438514; IMEI 2: 866155055438506, được lắp sim số 0862131308, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;

- Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị M:

01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 353814087259757, được lắp sim số: 0385 953 669, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.

- Hoàn trả lại cho bị cáo Đoàn Đức C:

01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng vàng, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 354836090022723, được lắp sim số: 0972650396, điện thoại cũ đã qua sử dụng, phần màn hình và mặt sau có nhiều vết nứt vỡ. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.

- Tịch thu tiêu huỷ:

25 (hai mươi năm) tờ giấy kích thước 8x10 cm là cáp đề trắng chưa viết số lô, số đề, ngày chơi;

01 (một) tờ giấy than màu xanh;

01 túi xách bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng.

Ý kiến tranh luận của bị cáo Nguyễn Thị M: Bị cáo nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, về vật chứng bị cáo nhất trí không có ý kiến gì tranh luận, đối với mức phạt tiền đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức phạt tiền xuống còn 50 triệu đồng. Ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác tranh luận.

Ý kiến tranh luận của bị cáo Đoàn Đức C: Bị cáo nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, về vật chứng bị cáo nhất trí, không có ý kiến gì tranh luận, đối với mức phạt tiền đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức phạt tiền xuống còn 40 triệu đồng. Ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác tranh luận.

Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên: Mức hình phạt tiền đối với bị cáo mà kiểm sát viên đưa ra đối với bị cáo là đã phù hợp, bởi vì bị cáo M là người đã từng bị xử phạt hành chính 02 lần về hành vi đánh bạc, bị cáo bị truy tố theo 02 điểm là điểm a và điểm c khoản 1 Điều 322 với mức phạt khởi điểm đã là 50 triệu đồng, do vậy bị cáo đề nghị được hưởng theo khởi điểm là không có căn cứ. Đối với bị cáo Đoàn Đức C xét thấy bị cáo là người phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt tuy nhiên bị cáo đề nghị được hưởng mức hình phạt dưới mức khởi điểm là không có căn cứ.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai và có thái độ ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, lời khai của những người làm chứng. Cụ thể như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đ Công an thành phố C lập hồi 17 giờ 50 phút ngày 04/6/2024, biên bản kiểm tra nội dung trong điện thoại và vật chứng thu giữ. Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh:

Hồi 17h50 phút ngày 04/6/2024, tại khu vực tổ G, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nguyễn Thị M và Đoàn Đức C có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép cho 32 người chơi qua cáp đề và tin nhắn điện thoại với tổng số tiền 27.572.000đ (Hai mươi bẩy triệu năm trăm bẩy mươi hai nghìn đồng).

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán số lô, số đề trái phép là vi phạm quy định pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích hưởng lợi bất chính đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế - hành chính của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, bị cáo Đoàn Đức C chỉ thừa nhận được bán số lô số đề cho 8 - 9 người, tuy nhiên việc bán số lô số đề trái phép được sự tự nguyện đồng thuận của cả hai bị cáo. Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội và số tiền hưởng lợi được sử dụng chung cho cả hai, do vậy cả hai phải cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ hành vi phạm tội.

Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Đức C về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân:

Bị cáo Đoàn Đức C là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Bị cáo Nguyễn Thị M là người có nhân thân xấu, đã từng 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Hình phạt chính:

Căn cứ vào nhân thân tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân, trong quá trình điều tra và truy tố các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Nguyễn Thị M đã bị xử phạt vi phạm hành chính 2 lần liên quan đến hành vi đánh bạc tuy nhiên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Hiện nay cả 2 bị cáo đang điều trị bệnh HIV, ngoài ra các bị cáo có nguồn thu nhập ổn định từ dãy nhà trọ cho thuê của các bị cáo. Tại phiên toà các bị cáo mong muốn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để các bị cáo được hưởng hình phạt tiền. Trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo Nguyễn Thị M đã nộp số tiền 20.000.000 đồng theo biên lai số 0001391 ngày 13/11/2024, bị cáo Đoàn Đức C đã nộp số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai số 0001392 ngày 13/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng để chứng minh cho khả năng thi hành án, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tiền là có căn cứ và phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Các bị cáo là đồng phạm, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo Đoàn Đức C phạm tội lần đầu với vai trò giúp sức cho Nguyễn Thị M, mục đích chỉ nhằm hưởng lợi từ số tiền chênh lệch. Việc bị cáo Nguyễn Thị M chuyển bảng đề cho ai và nhận ghi số lô số đề qua điện thoại bị cáo Đoàn Đức C không biết, do vậy cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị M cao hơn bị cáo Đoàn Đức C.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Việc xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy:

Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.300.000đ là số tiền do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và phạm tội mà có.

Hoàn trả lại số tiền 133.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO A37 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị M, xét thấy bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 02 chiếc điện thoại Iphone thu giữ của các bị cáo, xét thấy trong quá trình điều tra xác định được không liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần hoàn trả lại cho các bị cáo.

Đối với 25 (hai mươi năm) tờ giấy kích thước 8x10 cm là cáp đề trắng chưa viết số lô, số đề, ngày chơi; 01 (một) tờ giấy than màu xanh; 01 túi xách bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng, tại phiên toà các bị cáo không yêu cầu được trả lại, không còn giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Các nhận định khác:

Bị cáo Nguyễn Thị M khai nhận được bán số lô, số đề trái phép nhằm hưởng lợi từ tháng 4/2024 đến ngày bị bắt, tuy nhiên trong quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với Nông Khánh T, Hoàng Thị S, Ngô Văn T1, Nguyễn Văn S1, Đoàn Văn T2, Hoàng Ích T3 và Đàm Thị D có hành vi ghi số lô, số đề với Nguyễn Thị M, hành vi vi phạm không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với mỗi người, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chủ đề là một người đàn ông tên là H nhà ở phường H, thành phố C nhận bảng số lô, số đề và giao dịch tiền trực tiếp với Nguyễn Thị M, bị cáo không biết người đàn ông tên H ở đâu, quá trình giao dịch không ai biết và chứng kiến, cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh người đàn ông đó là ai, do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Đối với số tiền được hưởng lợi trái phép xét thấy ngày 04/06/2024 bị cáo chưa chuyển bảng đề và tiền cho chủ đề, do vậy hành vi tổ chức đánh bạc ngày 04/6/2024 bị cáo chưa được hưởng lợi. Đối với số tiền hưởng lợi trong khoảng thời gian trước khi bị bắt, xét thấy trong quá trình điều tra không có căn cứ để xác định được, do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

[8]. Về án phí : Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị M, Đoàn Đức C phạm tội “Tổ chức đánh bạc".

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M hình phạt chính số tiền 70.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Đoàn Đức C hình phạt chính số tiền 60.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Xác nhận: Bị cáo Nguyễn Thị M đã nộp số tiền 20.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên lai thu tiền số 0001391 ngày 13/11/2024; Bị cáo Đoàn Đức C đã nộp số tiền 10.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên lai thu tiền số 0001392 ngày 13/11/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam: 6.300.000đ thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị M (được trừ vào số tiền 6.433.000 đồng hiện đang được gửi giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng được mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Cao Bằng theo uỷ nhiệm chi số 43 ngày 23/10/2024).

- Hoàn trả lại cho bị cáo Đoàn Đức C số tiền 133.000 đồng (được trừ vào số tiền 6.433.000 đồng hiện đang được gửi giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng được mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Cao Bằng theo uỷ nhiệm chi số 43 ngày 23/10/2024)

Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền Việt Nam: 6.433.000đ vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 43 ngày 23/10/2024.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước:

01 (một) điện thoại di động (loại màn hình cảm ứng), nhãn hiệu OPPO A37, màu xanh tím than, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 866155055438514; IMEI 2: 866155055438506, được lắp sim số 0862131308, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;

- Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị M:

01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 353814087259757, được lắp sim số: 0385953669, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.

- Hoàn trả lại cho bị cáo Đoàn Đức C:

01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng vàng, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 354836090022723, được lắp sim số: 0972650396, điện thoại cũ đã qua sử dụng, phần màn hình và mặt sau có nhiều vết nứt vỡ. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.

- Tịch thu tiêu huỷ:

25 (hai mươi năm) tờ giấy kích thước 8x10 cm là cáp đề trắng, chưa viết số lô, số đề, ngày chơi;

01 (một) tờ giấy than màu xanh;

01 túi xách bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 14 ngày 25 tháng 10 năm 2024.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị M, Đoàn Đức C mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Chi cục thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lý Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 179/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc bằng hình thức số lô số đề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger