|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHATRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 179/HNGĐ-ST Ngày: 23/9/2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Minh
ải Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Có
Bà Võ Thị Bời
-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Bích Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 1270/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 195/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lê Hồng K, Sinh năm: 1978
Địa chỉ: Số B D, phường P, Tp ., tỉnh Khánh Hòa.
Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Bị đơn: Bà Bạch Thị Lan H, sinh năm 1989
HKTT: Lô I Jhu B, Tập thể H, đường D, p. V, Tp ., tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Số B D, phường P, Tp., tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ, lời khai trong quá trình tố tụng ông Lê Hồng K trình bày:
Ông và bà Bạch Thị Lan H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Giấy CNKH số 31, quyển số 01/2007, ngày 27/02/2007). Trong quá trình chung sống, giữa ông K và bà H phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được, nên ông K làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Bạch Thị Lan H. Mặc dù đã được hai bên gia đình và bạn bè khuyên giải nhưng càng sống với nhau cả hai thường xuyên xảy ra cải vã, càng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống gia đình không được hạnh phúc. Vì thế, ông xin được ly hôn với bà Bạch Thị Lan H. Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Lê Thị Khánh H1, sinh ngày 04/12/2006. Ly hôn ông K có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn bà Bạch Thị Lan H: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà H theo quy định của pháp luật để bà thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như tham gia phiên tòa nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Hồng K và bà Bạch Thị Lan H không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Lê Hồng K được ly hôn với bà Bạch Thị Lan H. Về con chung: Ông K và bà H có 01 con chung là Lê Thị Khánh H1, sinh ngày 04/12/2006. Giao con chung cho ông K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Ông Lê Hồng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Lê Hồng K khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với bà Bạch Thị Lan H, bà H có đăng ký HKTT tại Lô I, Khu B, Tập thể H, đường D, p. V, Tp., tỉnh Khánh Hòa và nơi cư trú tại địa chỉ: Số B D, phường P, Tp ., tỉnh Khánh Hòa; do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lê Hồng K có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Bạch Thị Lan H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bà H. Do đó, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Ông Lê Hồng K và bà Bạch Thị Lan H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Giấy CNKH số 31, quyển số 01/2007, ngày 27/02/2007) nên đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Lê Hồng K có yêu cầu ly hôn nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý là đúng quy định tại khoản 1, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải hòa giải, ông Lê Hồng K trình bày giữa ông và bà H phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được, mặc dù đã được hai bên gia đình và bạn bè khuyên giải nhưng càng sống với nhau cả hai thường xuyên xảy ra cải vã, càng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống gia đình không được hạnh phúc. Vì thế, ông đề nghị Tòa án cho ông được ly hôn, ông không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc này được nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông K và bà H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông K là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về con chung: Ông K và bà H có 01 con chung là Lê Thị Khánh H1, sinh ngày 04/12/2006. Hiện nay cháu Lê Thị Khánh H1 đang sống ổn định cùng ông Lê Hồng K nên giao con chung cho ông K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cũng như đảm bảo quyền, lợi ích của cháu. Ông Lê Hồng K không yêu cầu bà Bạch Thị Lan H cấp dưỡng nuôi con. Đây là yêu cầu tự nguyện của ông K nên Tòa án chấp nhận.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Ông Lê Hồng K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Lê Hồng K.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hồng K được ly hôn bà Bạch Thị Lan H.
[2] Về con chung: Ông K và bà H có 01 con chung là Lê Thị Khánh H1, sinh ngày 04/12/2006. Giao con chung cho ông Lê Hồng K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Bạch Thị Lan H.
Bà Bạch Thị Lan H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết bà Bạch Thị Lan H và ông Lê Hồng K có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Ông Lê Hồng K phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001617 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, ông Lê Hồng K đã nộp đủ án phí.
[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Quy định: Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hồng Minh |
Bản án số 179/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 179/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
