|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 179/2024/HS-PT Ngày: 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh và ông Trần Minh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 320/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn L, do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 272/2024/QĐXXPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024:
Bị cáo kháng cáo:
Bùi Văn L, sinh năm 1955, tại thành phố L, tỉnh An Giang; trú tại: Tổ G, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: chạy xe honda đò; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B và bà Nguyễn Thị Ẩ; vợ Phạm Thị Đ; con có 04 người, con lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tấn P – Luật sư thuộc Văn Phòng Luật sư Nguyễn Văn P1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Đường A, KDC S, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
(Ngoài ra trong vụ án đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 28/7/2022, sau khi uống rượu, Bùi Văn L điều khiển xe mô tô biển số 67B1-903.76 chở bà Nguyễn Thị H trên đường T theo hướng phường C - xã V, thị xã T; khi đến khu vực tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, không làm chủ được tay lái nên va chạm với xe mô tô biển số 67M7-9232 do ông Chau K điều khiển chở bà Nèang D đi cùng chiều phía trước đang bật đèn xin chuyển hướng sang lề trái đường, dẫn đến tai nạn giao thông làm bà Nèang D chết trên đường đưa đi cấp cứu.
Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 229/22/TT ngày 29/7/2022, của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh A, kết luận nguyên nhân tử vong của bà Nèang D như sau: Bầm máu vùng đỉnh phải, lỗ tai phải đóng nhiều máu đã khô, lỗ mũi đóng máu đã khô, bầm tụ máu dưới da vùng thái dương, đỉnh, chẫm phải, nứt sọ phức tạp vùng thái dương, đỉnh, chẫm phải, vỡ sụp xương đá bên phải;
Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng, nứt, vỡ sọ phức tạp.
Căn cứ Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở ngày 28/7/2022, của Đ1 trật tự Công an huyện (nay thị xã) Tịnh Biên đối với Bùi Văn L là 0,488miligam/l khí thở.
Tại Kết luận giám định số 315/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 05/10/2022, của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Dữ liệu video lưu trữ trong USB thể hiện vận tốc của xe mô tô di chuyển phía trước do ông Chau K điều khiển biển số 67M7-9232 từ 18,8 km/h đến 19,1km/h, vận tốc của xe mô tô di chuyển phía sau do Bùi Văn L điều khiển biển số 67B1-903.76 từ 51,7 km/h đến 53,8 km/h; Khoảng cách giữa hai xe tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm 9,9m.
Tại Kết luận giám định số 438/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 14/01/2023, của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Thời gian khi xe mô tô biển số 67M7 – 9232 bắt đầu chuyển hướng từ lề phải sang lề trái cho tới khi xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 67B1-903.76 là 1,96 giây.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 1101/KL-HĐĐG.TTHS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T: Xe mô tô biển số 67M7-9232, tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 1.690.000 đồng.
Tang vật thu giữ gồm có: 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Bùi Văn L, 01 xe mô tô biển số 67B1-903.76, kèm giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lê Quốc T; 01 xe mô tô biển số 67M7-9232, kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Dương Thị Thùy T1.
Ngày 15/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với bị cáo Bùi Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự;
Cáo trạng số 68/CT-VKSTB-HS ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt: bị cáo Bùi Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/9/2024, bị cáo Bùi Văn L kháng cáo xin được hưởng án treo do đã cao tuổi, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, bản thân là lao động duy nhất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện điều trị bệnh và chăm lo cuộc sống gia đình được tốt hơn.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L có nội dung yêu cầu rõ ràng, gửi trong hạn luật định, nên đủ cơ sở chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, của các bị cáo khác trong vụ án, của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Bùi Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tuyên phạt bị cáo hình phạt 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn L xuất trình biên nhận xác định đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại 5.000.000 đồng, gia đình bị hại xin cho bị cáo cải tạo không giam giữ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L, sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Bùi Văn L 02 năm 06
tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với nội dung bản án sơ thẩm đã xác định tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét đến nguyên nhân gây tai nạn cũng có một phần do xe phía trước chuyển hướng đột ngột và bị hại không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông dẫn đến tử vong. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp các chứng từ xác định bị cáo đã 69 tuổi, có bệnh lý tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ...và bị cáo đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại 5.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của bị hại xin cho bị cáo được cải tạo không giam giữ để có điều kiện điều trị bệnh, lao động nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo Bùi Văn L.
Bị cáo Bùi Văn L nhất trí với ý kiến của người bào chữa. Xin Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, giúp bị cáo có điều kiện chữa bệnh, lao động nuôi sống bản thân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Bùi Văn L nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn L khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra. Ngoài ra còn phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Bùi Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L thì thấy:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã được học Luật giao thông đường bộ, cũng như các quy tắc giao thông đường bộ, được đào tạo, sát hạch và được cấp giấy phép lái xe, nhận thức được việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ nó có thể gây ra nguy hại cho người và tài sản bất cứ lúc nào nếu không tuân thủ, chấp hành quy định của pháp luật. Lẽ ra, khi bị cáo có sử dụng rượu, bia không được phép lái xe tham gia giao thông, nhưng bị cáo không làm được điều đó, mà vì quá tự tin vào khả năng
của mình vẫn tiếp tục điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 67B1-903.76 mà thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, không làm chủ được tay lái nên đã va chạm với xe mô tô do ông Chau K điều khiển chở bà Nèang D đi cùng chiều phía trước, dẫn đến hậu quả làm bà Nèang D chết trên đường đưa đi cấp cứu.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải do Nhà nước thiết lập để duy trì sự ổn định và phát triển xã hội mà còn gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ra đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân mà không có gì có thể bù đắp được.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là phù hợp, thỏa đáng, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Xét thấy, trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ của bị cáo không nghề nghiệp, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo đang điều trị bệnh. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo bồi thường thêm cho gia đình bị hại, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo cải tạo không giam giữ. Bị cáo đã 69 tuổi, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 18/11/2024).
Giao bị cáo Bùi Văn L cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Bùi Văn L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Bùi Văn L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 179/2024/HS-PT ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 179/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn L
