Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2023/DS-PT

Ngày: 18/8/2023

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung.

Bà Phan Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2022/TLPT-DS ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2022/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2022, Thông báo mở lại phiên tòa số : 562/TB-TA ngày 10/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 436/2023/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1950; Cư trú: số C, tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Như T, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Đường N, tổ B, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Vũ Ngọc D, sinh năm 1974; Cư trú: tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Nguyễn Duy L1, sinh năm 1982
  2. Bà Lê Nguyễn Anh T1, sinh năm 1987

Cùng nơi cư trú: số C, tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, bà T1: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1950; Cư trú: số C, tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

1

  1. Bà Lê Nguyễn Trâm A, sinh năm 1992 (có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1950

Cùng cư trú: số C, tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974;

Cư trú: Tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Bà Bùi Thị C sinh năm 1961; Cư trú: Tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn K sinh năm 1960; Cư trú: Tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị Kim N sinh năm 1961; Cư trú: Cư trú: 8/3A, đường Sông Trầu, tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  4. Bà Hoàng Thị N1 (Đ) sinh năm 1942; Cư trú: Tổ D, ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  5. Bà Hoàng Thị Tuyết N2 sinh năm 1961; Cư trú: số H, tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965. Cư trú : Tổ I, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  7. Ông Trần Ngọc K1, sinh năm 1974. Cư trú: tổ B, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L (bà L đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Nguyễn Duy L1 và bà Lê Nguyễn Anh T1), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Nguyễn Trâm A cùng thống nhất trình bày:

Khoảng năm 2002, bà Nguyễn Thị Kim L nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị Kim N (cháu của bà L) với diện tích 205m² thuộc thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S giáp ranh với thửa 582 của ông Vũ Ngọc D và thửa 583 của bà Nguyễn Thị Kim N, ranh đất giữa đất bà L và ông D có hàng rào cây dâm bụt nay không còn, đất của bà N từ trước đến nay không có biến động. Khoảng cuối năm 2002 bà L đăng ký kê khai đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/12/2002, khoảng năm 2004 gia đình bà Nguyễn Thị Kim L đến sinh sống tại thửa đất số 751 thì phát hiện ông Vũ Ngọc D đã xây tường rào kéo lưới B40 trên đất tranh chấp đến nay vẫn còn. Đến năm 2019, Nhà nước có chủ trương cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà L phát hiện diện tích đất theo bản đồ địa chính mới thiếu 29,3m² đất so với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài sản này là tài sản chung của bà L và ông Lê Xuân N3, năm 2007 ông N3 chết hàng thừa kế thứ nhất của ông N3

2

gồm bà L, ông Lê Nguyễn Duy L1, bà Lê Nguyễn Anh T1, bà Lê Nguyễn Trâm A, ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị V. Trong đó ông T2 và bà V có đơn từ chối nhận di sản nên ông bà không còn liên quan trong vụ án này. Nay nguyên đơn yêu cầu ông Vũ Ngọc D trả lại 29,3m² đất thuộc thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S cho nguyên đơn theo Trích lục và đo vẽ khu đất bản đồ địa chính (gọi tắt là bản vẽ) số 7512/2020 ngày 07/12/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh T3 nhưng nguyên đơn không xác định được diện tích 29,3m² đất tranh chấp nằm ở vị trí nào trong thửa đất 751 theo bản vẽ trên; Đối với hàng rào tường xây của ông D và bà H trị giá 1.950.000 đồng nguyên đơn đồng ý thanh toán cho ông D và bà H; Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí tố tụng khác trong vụ án này. Các đương sự không còn yêu cầu nào khác.

- Bị đơn ông Vũ Ngọc D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:

Khoảng năm 1999, ông Vũ Ngọc D nhận chuyển nhượng thửa đất số 582, tờ bản đồ số 42 xã S của ông Nguyễn Văn H1 là nhận toàn bộ thửa đất, ranh đất có hàng rào cây dâm bụt hiện nay không còn, đầu năm 2003 ông D xây tường rào kéo lưới B40 trên đất ông D và đất ông còn cách hàng rào cây dâm bụt 10 cm, khi xây hàng rào ông D có hỏi ý kiến chồng bà Nguyễn Thị Kim N và từ năm 2003 đến năm 2019 không ai tranh chấp, khiếu nại gì, việc xây hàng rào hàng xóm xung quanh nhiều người biết, phần đất nguyên đơn tranh chấp vợ chồng ông D đã quản lý từ năm 1999 cho đến nay. Ngày 20/02/2006 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 582 trên cho ông D và bà Nguyễn Thị H. Hiện nay theo bản đồ địa chính mới thửa đất 582 có biến động tăng về diện tích nhưng ông D và bà H khẳng định từ trước đến nay ông bà không lấn đất của nguyên đơn nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã tuyên xử: Áp dụng Điều 6, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L đối với ông Vũ Ngọc D về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với 29,3m² đất thuộc thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng do bà L là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí trên.

3

- Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

- Ngày 04/6/2022 bà Nguyễn Thị Kim L nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án số: 18/2022/DS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm nêu trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

- Về thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì theo ranh đất cũ (bản đồ địa chính năm 1999) bị đơn lấn sang nguyên đơn 16m² có xây dựng tường rào, khi xây dựng tường rào thì bị đơn tự ý xây không được sự đồng ý của nguyên đơn là chủ sử dụng đất liền kề. trên cơ sở ranh đất là tường xây dựng nên khi vẽ lại bản đồ địa chính mới (năm 2017) cũng không được sự chỉ dẫn của chủ sử dụng đất là bà L nên bị lệch ranh.

Đối với bị đơn hiện nay sử dụng thửa đất 582 có biến động tăng về diện tích là 124.3m² là do lệch ranh của các người sử dụng đất liền kề trong đó có bà L. Như vậy diện tích đất của bị đơn được cấp ít hơn so với hiện trạng sử dụng hiện nay nhiều và theo trích đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính só 1572/2023 ngày 08/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đại tỉnh Đồng Nai thì xác định phần đất tranh chấp có diện tích 16m2 nằm trong thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản đồ cũ thành lập năm 1999) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L (phần lồng ghép giữa bản đồ cũ và bản đồ mới). Theo bản đồ mới năm 2017 thì các bên chưa có đăng ký biến động. Như vậy, việc bà L khời kiện ông D, bà H lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà diện tích 16m² là có cơ sở chấp nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom. Buộc bị đơn ông D, bà H2 phải trả lại cho bà L quyền sử dụng đất diện tích 16m² được giới hạn bởi các mốc (1,D,B,C,7,1) theo trích đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính só 1572/2023 ngày 08/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đại tỉnh Đồng Nai thì xác định phần đất tranh chấp có diện tích 16m2 nằm trong thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản đồ cũ thành lập năm 1999) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên thanh t cho ông D và bà H hàng rào tường xây trị giá 1.950.000 đồng. Bà L được sử dụng tường rào dài 30m kết cấu (tường gạch xây không tô, cao 0,4m, trên giăng lưới B40 cao 1,4m; cột bê tông

4

thép đúc sẵn 8 cột) Theo chứng thư thẩm định giá số 89/TĐG-CT ngày 21/6/2021 của Công ty cổ phần T4.

Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L kháng cáo toàn bộ bản án số: 18/2022/DS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm nêu trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn đề nghị Tòa án đo đạc và xác minh lại về việc sử dụng, đăng ký đất của các đương sự. Qua đo đạc xác định phần đất tranh chấp có diện tích 16m² nằm trong thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản đồ cũ thành lập năm 1999). Theo bản đồ thành lập năm 2017 thì nằm trong thửa 582, tờ bản đồ số 42 xã S và theo hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của các đương sự do Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh T3 cung cấp được xác định như sau:

- Về nguồn gốc đất: Năm 1988 bà Nguyễn Thị Kim N (cháu của bà L) mua của ông Nguyễn Công Đ1 02 thửa đất gồm 751 và 583. Sau đó, bà Nguyễn Thị Kim N (cháu của bà L) chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Kim L thửa đất 751 với diện tích 205m² sau đó ông Đ1 có viết giấy nhượng lại đất cho bà L ghi ngày 16/3/1988, bà L đăng ký xin cấp giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S. Ngày 17/12/2002, UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất số V 201262 cho bà L với diện tích 205m² thuộc thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S.

Đối với ông Vũ Ngọc D và bà Nguyễn Thị H sử dụng thửa 582, tờ bản đồ số 42 xã S liền kề với đất bà L, đất có nguồn gốc là của ông Đoàn Quang H3, được UBND huyện T cũ cấp giấy CNQSD đất số O 401579, ngày 13/4/2000 thửa 582, tờ bản đồ số 42 xã S, diện tích 478m². Ngày 18/8/2000 ông H3 viết giấy tay chuyển nhượng cho ông D. Năm 2004 ông D đăng ký cấp giấy CNQSD đất. Ngày 20/02/2006, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1183/QĐ.UBND v/v thu hồi giấy CNQSD đất số O 401579, ngày 13/4/2000 mang tên ông Hòa đồng t1 cấp giấy CNQSD đất cho hộ ông D sử dụng tại xã S.

5

Ngày 02/2/2006 ông D, bà H được UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất số AD 328760 tại thửa 582, tờ bản đồ số 42 xã S, diện tích 478m² (300m² đất ở nông thôn và 178m² đất trồng cây lâu năm).

- Theo trích đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1572/2023 ngày 08/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đại tỉnh Đồng Nai thì xác định phần đất tranh chấp có diện tích 16m² nằm trong thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai được cấp giấy CNQSD đất cho bà L (Bản đồ cũ thành lập năm 1999). Theo bản đồ thành lập năm 2017 thì nằm trong thửa 582, tờ bản đồ số 42 xã S; thửa 582 tổng diện tích 620.2m² ông D, bà H sử dụng là 602.3m² (tăng hơn so với được cấp là 602.3 – 478 = 124.3m²), tổng diện tích bà L sử dụng hiện nay là 175.7m² (giảm hơn so với được cấp là 205 – 175.7 = 29.3m²).

Theo bà L khai do bà ở TP . Hồ Chí Minh nên vào năm 2004 thì phát hiện ông Vũ Ngọc D đã xây tường rào kéo lưới B40 trên đất tranh chấp đến nay vẫn còn. Đến năm 2019, Nhà nước có chủ trương cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà L phát hiện diện tích đất theo bản đồ địa chính mới thiếu 29,3m² đất so với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà khởi kiện đòi lại diện tích là 29,3m² do thiếu diện tích đất, nhưng tại cấp phúc thẩm xác định ông D, bà H lấn chiếm diện tích là 16m² như hiện trạng đo đạc nên bà yêu cầu ông D, bà H trả lại đất lấn chiếm diện tích 16m². Đối với hàng rào tường xây của ông D và bà H trị giá 1.950.000 đồng nguyên đơn đồng ý thanh toán cho ông D và bà H.

Đối với bị đơn không đồng ý và cho rằng khi ông xây tường rào không ai tranh chấp và hiện nay theo bản đồ địa chính mới thửa đất 582 có biến động tăng về diện tích nhưng ông bà khẳng định từ trước đến nay không lấn đất của nguyên đơn nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì theo ranh đất cũ (bản đồ địa chính năm 1999) bị đơn lấn sang nguyên đơn 16m² có xây dựng tường rào, khi xây dựng tường rào thì bị đơn tự ý xây không được sự đồng ý của nguyên đơn là chủ sử dụng đất liền kề. trên cơ sở ranh đất là tường xây dựng nên khi vẽ lại bản đồ địa chính mới (năm 2017) cũng không được sự chỉ dẫn của chủ sử dụng đất là bà L nên bị lệch ranh.

Đối với bị đơn hiện nay sử dụng thửa đất 582 có biến động tăng về diện tích là 124.3m² là do lệch ranh của các người sử dụng đất liền kề trong đó có bà L. Như vậy diện tích đất của bị đơn được cấp ít hơn so với hiện trạng sử dụng hiện nay nhiều và theo trích đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1572/2023 ngày 08/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đại tỉnh Đồng Nai thì xác định phần đất tranh chấp có diện tích 16m² nằm trong thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản đồ cũ thành lập năm 1999) được cấp

6

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L (phần lồng ghép giữa bản đồ cũ và bản đồ mới). Theo bản đồ mới năm 2017 thì các bên chưa có đăng ký biến động. Như vậy, việc bà L khởi kiện ông D, bà H lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà diện tích 16m² là có cơ sở chấp nhận.

Theo Văn phòng ĐKQSD đất tỉnh Đồng Nai Chi nhánh T3 thì hiện nay bà L và ông D chưa có đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính mới thành lập năm 2017, vẫn sử dụng Giấy CNQSD đất cũ.

Về căn cứ xác lập quyền sử dụng đất bà L được cấp giấy CNQSD đất vào ngày 17/12/2002 đối với thửa đất thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S diện tích 205m² đúng với diện tích đất đã được cán bộ địa chính và UBND xã S xác nhận ngày 18/11/2002; ông D, bà H được cấp giấy CNQSD đất từ việc nhận chuyển nhượng đất của ông H3 được UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất số AD 328760 tại thửa 582, tờ bản đồ số 42 xã S, diện tích 478m².

Tại cấp sơ thẩm đã nhận định “Theo lời khai những người dân sống lâu năm tại địa phương đều xác định ông D không lấn đất của bà L, khi ông D xây tường rào có xây sát ranh hàng cây dâm bụt, khu vực xung quanh đất tranh chấp hiện nay đất thực tế của nhiều hộ dân giữa bản đồ địa chính cũ và mới có biến động về diện tích, ranh đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo bản đồ địa chính cũ (BL từ 161 đến 163, từ 169 đến 173); theo biên bản xác minh thể hiện thửa 751 được bà L đến chính quyền địa phương nhận đất, đăng ký kê khai đồng loạt và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà nên chính quyền địa phương không xuống thực địa xác minh thửa đất (BL 90); Theo lời khai của tất cả các đương sự và người dân sống lâu năm tại địa phương đều xác định ranh đất giữa đất bà L và ông D là một đường thẳng, lời khai này phù hợp với hiện trạng đất hiện nay và bản đồ địa chính mới, không phù hợp với bản đồ địa chính cũ...” theo như nhận định như trên của cấp sơ thẩm để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật. Bởi vì, cấp sơ thẩm chưa xem xét việc bị đơn được sử dụng diện tích đất bao nhiêu, được Nhà nước cấp diện tích đất bao nhiêu và quyền sử dụng đất của bị đơn được xác lập vào thời điểm nào để căn cứ giải quyết đúng quy định của pháp luật. Như vậy đối với bị đơn được cấp giấy CNQSD đất diện tích 478m² nay lại tăng lên 124.3m² nguyên nhân từ đâu, theo Công văn số 4502/CV-VPD9K.TB ngày 23/6/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh T3 có trả lời như sau: “Việc chồng ghép các thửa đất trên bản đồ địa chính cũ thành lập năm 1999 chỉ mang tính tham khảo, áp dụng bản đồ nào là phù hợp do Tòa án xem xét xử lý tùy thuộc vào từng hồ sơ của vụ án” (bút lục 88).

Từ những nhận định trên kháng cáo của nguyên đơn bà L là có cơ sở chấp nhận. Tại cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là

7

chưa xác minh rõ các chứng cứ về nguồn gốc đất, về việc xác lập quyền sử dụng đất, đăng ký quyền sử dụng đất của các đương sự làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L. Do đó Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom. Buộc bị đơn ông D, bà H phải trả lại cho bà L quyền sử dụng đất diện tích 16m² được giới hạn bởi các mốc (1,D,B,C,7,1) theo trích đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1572/2023 ngày 08/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đại tỉnh Đồng Nai thì xác định phần đất tranh chấp có diện tích 16m² nằm trong thửa đất số 751, tờ bản đồ số 42 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản đồ cũ thành lập năm 1999) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên thanh t cho ông D và bà H hàng rào tường xây trị giá 1.950.000 đồng. Bà L được sử dụng tường rào dài 30m kết cấu (tường gạch xây không tô, cao 0,4m, trên giăng lưới B40 cao 1,4m; cột bê tông thép đúc sẵn 8 cột) Theo chứng thư thẩm định giá số 89/TĐG-CT ngày 21/6/2021 của Công ty cổ phần T4.

[3] Về án phí: Theo chứng thư thẩm định giá số 89/TĐG-CT ngày 21/6/2021 của Công ty cổ phần T4, thẩm định giá với đơn giá 1m² quyền sử dụng đất có đơn giá = 4.000.000 đồng.

Tài sản tranh chấp là 16m² x 4.000.000 đồng = 64.000.000 đồng.

Tính án phí dân sự sơ thẩm là 64.000.000 đồng x 5% = 3.200.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm ông D, bà H phải chịu 3.200.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm ông D, bà H phải chịu 300.000 đồng

- Bà Nguyễn Thị Kim L là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

- Về chi phí tố tụng khác: Ghi nhận sự tự nguyện của bà L chịu bà đã thanh toán xong.

[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, 228, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 175, 176, 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

8

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2022/DS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Vũ Ngọc D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H.
  • - Buộc ông Vũ Ngọc D và bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L quyền sử dụng đất diện tích 16m² được giới hạn bởi các mốc (1,D,B,C,7,1) theo trích đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1572/2023 ngày 08/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đại tỉnh Đồng Nai.
  • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký lại quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên thanh t cho ông D và bà H hàng rào tường xây trị giá 1.950.000 đồng. Bà L được sử dụng tường rào dài 30m kết cấu: (tường gạch xây không tô, cao 0,4m, trên giăng lưới B40 cao 1,4m; cột bê tông thép đúc sẵn 8 cột). Theo chứng thư thẩm định giá số 89/TĐG-CT ngày 21/6/2021 của Công ty cổ phần T4.
  1. Về án phí: Ông Vũ Ngọc D và bà Nguyễn Thị H phải chịu 3.200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Bà Nguyễn Thị Kim L thuộc trường hợp được miễn án phí.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

9

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh ĐN;
  • - TAND huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS H. Trảng Bom;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vĩnh Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2023/DS-PT ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 179/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Kim L khởi kiện ông Vũ Ngọc D “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger