Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 179/2024/HSST

Ngày: 13/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quách Đình Hoằng

Bà Doãn Thị Lệ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 172/2024/TLST – HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, T1 gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 7 năm 1980 tại Hà Nội;

Nơi thường trú: Làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai và nơi ở hiện tại: 153 T, Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí D, sinh năm 1958 và bà Khuất Thị C (Đã chết); Bị cáo có chồng là Võ Văn T2, sinh năm 1960 và có một con sinh năm 1999. Tiền án: 01 lần (Tại Bản án số 07 ngày 13/02/2020, của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, xét xử tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Chấp hành án tại trại giam G; ngày 06/6/2022, chấp hành xong hình phạt tù); Tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Thị T bị tạm giữ từ ngày 02/4/2024 đến ngày 11/4/2024 sau đó chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Duy L, sinh năm 1992. Địa chỉ: A T, Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian tháng 9 năm 2019. Khoảng tháng 02/2024, T thuê phòng trọ ở tại nhà trọ số A đường T, Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thông qua các mối quan hệ xã hội, T quen biết và có số điện thoại của đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 21 giờ ngày 22/3/2024 tại phòng trọ, T đã gọi điện thoại cho T3 hỏi mua ma túy thì T3 đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực cổng công viên D trên đường L, phường I, thành phố P. Sau đó, T đi bộ đến điểm hẹn gặp T3 và đã mua của T3 01 (một) bì ma túy (loại Methamphetamine) với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, T cất vào túi quần đang mặc trên người rồi đi bộ về phòng trọ. Tại phòng trọ, T đã dùng ống hút nhựa và bì nilon phân chia số ma túy đã mua ra thành 03 (ba) gói nhỏ rồi T cất giấu 02 (hai) gói dưới mái tole phòng trọ và cất giấu 01 (một) gói trong túi áo khoác, với mục đích để sử dụng dần. Trong khoảng thời gian từ ngày 22/3/2024 đến ngày 01/4/2024 tại phòng trọ, T đã nhiều lần lấy ma tuý từ gói cất giấu trong túi áo khoác ra để sử dụng; phần còn lại, T vẫn để trong gói nilon rồi cất vào túi áo khoác. Đến 14 giờ 50 phút ngày 02/4/2024, khi T đang ở tại phòng trọ số 03, nhà trọ số A đường T, Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh G phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Công an thành phố P, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và đã thu giữ vật chứng, gồm: Thu bên trong túi áo khoác bên trái của T đang mặc trên người 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong có 01 (một) gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể màu trắng (đã niêm phong theo quy định, ghi “Tuyết 01”), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 89840 48000 32585 0306), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh kèm sim số và 2.550.000 đồng tiền Ngân hàng N. Đồng thời, T đã tự lấy tại khu vực dưới mái tole phòng trọ rồi giao nộp 02 (hai) gói nilon, bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định, ghi “Tuyết 02")

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy vào ngày 02/4/2024, xác định: Nguyễn Thị T dương tính với ma túy loại Methamphetamine

Tại bản Kết luận giám định số 400/KL-KTHS ngày 11/4/2024, của phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon (trong gói nilon màu hồng) được niêm phong trong bì công văn ghi “Tuyết 01” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3004 gam; chất màu trắng dạng tinh thể trong 02 (hai) gói nilon, được niêm phong trong bì công văn ghi “Tuyết 02” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 10,3807 gam”

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.

Bản Cáo trạng số 188/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm

g Khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy chất ma tuý còn lại sau giám định trong 02 bì công văn niêm phong ghi “Số 400/PC09 ngày 11/4/2024”, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G, tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng kèm sim số. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh kèm sim số và số tiền 2.550.000 đồng tiền Ngân hàng N

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời căn cứ vào Kết luận giám định số 400/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh G, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thị T sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian tháng 9 năm 2019 và thuê phòng trọ để ở tại nhà trọ số A đường T, Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, tại khu vực cổng công viên D trên đường L, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai, T đã mua của đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bì nilon có chứa ma tuý (loại Methamphetamine) với giá 3.000.000 đồng. Mua được ma túy, T mang về phòng trọ chia ra thành 03 gói nhỏ để sử dụng dần. Trong khoảng thời gian từ ngày 22/3/2024 đến ngày 01/4/2024 tại phòng trọ, T đã nhiều lần lấy ma tuý ra để sử dụng. Đến 14 giờ 50 phút ngày 02/4/2024, khi T đang ở phòng trọ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh G phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng. Qua giám định, xác định: Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 03 gói nilon mà bị cáo Nguyễn Thị Tuyết tàng t để sử dụng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 10,6811 gam.

Bị cáo Nguyễn Thị T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố

tình thực hiện đó là lỗi cố ý, bị cáo đã tàng trữ 10,6811 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hành vi của bị cáo được xác định là tội phạm rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội.

[4] Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cụ thể:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có một tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Xét mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, hành vi phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy còn lại sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trong 02 bì công văn dán kín ghi số 400/PC09 ngày 11/4/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng kèm sim số, là của bị cáo T và bị cáo đã sử dụng liên lạc với đối tượng T3 để mua ma túy do đó cần tịch thu sung công.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh kèm sim số và số tiền 2.550.000 đồng tiền Ngân hàng N là tài sản của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng T3 mà bị cáo Nguyễn Thị T khai là người đã bán ma túy, do bị cáo không biết được nhân thân, lai lịch của T3. Cơ quan điều tra cũng đã mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong 02 chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo nhưng không xác định được số điện thoại của T3, do sau khi gọi thì T đã xóa nhật ký cuộc gọi và không xác định được nội dung cuộc gọi, tin nhắn có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời đã tiến hành xác minh tại khu vực công viên D thuộc phường I, thành phố P nhưng không xác định được đối tượng tên T3 có liên quan đến hoạt động ma túy nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với ông Đỗ Duy L là chủ nhà trọ nơi bị cáo Nguyễn Thị T thuê ở và việc bị cáo T tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ thì ông L không biết nên không có căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 8 (T4) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 02/4/2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

    Xử: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định được để trong 02 (hai) bì công văn dán kín ghi cùng ghi số 400/PC09 ngày 11/4/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G (Có chữ ký của Bùi Sĩ T5, H, Nguyễn Thế M)

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 89840 48000 32585 0306) (Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng bên trong).

    Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh kèm sim số (Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng bên trong) và số tiền 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).

  4. Về án phí:

    Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Tp. Pleiku;
  • - Công an Tp. Pleiku;
  • - Chi cục THADS Tp. Pleiku;
  • - Bị cáo, người bào chữa (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thắm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Đình Hoằng

Doãn Thị Lệ

Nguyễn Thị Hồng Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 179/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý "
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger