Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 178/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-5-2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng Nghiệpông Phan Phước Tân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-HN ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 205/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mây M, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Mu Hâm M1, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà Mây M2 có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Mu H Mách vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Mây M trình bày: Hôn nhân giữa bà Mây M3 và ông Mu Hâm M1 do mai mối và tiến đến hôn nhân vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 136, ngày 22/8/2012. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Mu Hâm M1 chỉ lo ăn chơi, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, bà khuyên can nhiều lần không thay đổi. Hai bên bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên cãi nhau. Bà và ông M1 đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, trong thời gian ly thân gia đình động viên hàn gắn nhưng không được. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục sống chung, tình cảm bà dành cho ông M1 không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông M1.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Ấp Thol L, sinh ngày 04/6/2014 và cháu Ip Ro H1, sinh ngày 15/10/2018. Hiện 02 con chung đều đang sống cùng ông M1. Sau khi ly hôn bà đồng ý cho ông M1 được tiếp tục nuôi cháu Ấp Thol L1 và cháu Íp Tô H2 và bà xin không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông Mu Hâm M1 vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Biên bản lấy lời khai ngày 29/3/2024, người thân bà Mây M2 cung cấp: Cuộc sống vợ chồng của Mây M và M Mách không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau mà nguyên nhân do ông M1 ăn chơi, không chăm lo cuộc sống gia đình, từ năm 2020 cả hai đã không còn sống chung, nên theo bà khả năng hàn gắn là không thể; về con chung thì có 02 (hai) con chung, hiện do ông M1 nuôi dạy, hàng tháng bà Mây M2 đều gửi tiền về quê để lo cho các con, do các cháu có nguyện vọng sống cùng cha; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.

Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã N cung cấp ngày 01/4/2024, ông Mu Hâm M1, sinh năm 1992, nơi thường trú tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà: Bà Mây M2 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Mu Hâm M1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của Mây M và Mu H Mách có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Mây M2 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung là cháu cháu Ấp Thol L, sinh ngày 04/6/2014 và cháu Ip Ro H1, sinh ngày 15/10/2018 đang sinh sống cùng ông M1, cháu Ấp T cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng ông M1, đo đó để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt, đề nghị Hội đồng xét xử giao các con chung cho ông M1 được tiếp tục nuôi dạy. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nếu sau này ông M1 có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Mây M yêu cầu được ly hôn với ông Mu Hâm M1. Ông Mu Hâm M1 cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Mây M2 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Mu H Mách được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Mây M và ông Mu H Mách theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân của bà Mây M và ông Mu Hâm M1 do mai mối tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh An Giang ngày 22/8/2012 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà Mây M2 xin ly hôn với ông Mu Hâm M1, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Mây M và ông Mu H Mách phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông Mu Hâm M1 không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà Mây M2, nên yêu cầu ly hôn của bà Mây M2 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung:

Quá trình chung sống bà Mây M và ông Mu Hâm M1 có 02 (hai) con chung là cháu Ấp Thol L, sinh ngày 04/6/2014 và cháu Ip Ro H1, sinh ngày 15/10/2018, hiện các con chung đang sống cùng ông Mu Hâm M1. Theo Biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên ngày 29/3/2024 thì cháu Ấp T có nguyện vọng được sống cùng ông M1. Do các con chung đã sống quen cùng ông M1 nên để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để ông M1 nuôi dạy các con chung.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do ông M1 vắng mặt nên không xác định được yêu cầu của ông M1 sau này ông M1 có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung thì giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Mây M xác định không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà Mây M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mây M2 .

Về quan hệ hôn nhân: Bà Mây M được ly hôn với ông Mu Hâm M1.

Về con chung: Ông Mu Hâm M1 được tiếp tục nuôi dạy 02 (hai) con chung tên Ấp Thol L, sinh ngày 04/6/2014 và Ip Ro H1, sinh ngày 15/10/2018.

Bà Mây M2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Mây M2 cùng các thành viên gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của ông Mu Hâm M1. Ngược lại ông Mu Hâm M1 và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Mây M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Bà Mây M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) mà bà Mây M2 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009234 ngày 28/12/2024. Ông Mu Hâm M1 không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Chúc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger