Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2024/HS-ST

Ngày: 08/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn
Bà Nguyễn Hải Yến
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường -Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Thắng - Kiểm sát viên

Trong ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 26/6/2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn V, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Vợ: Lê Thị H1, sinh năm 1998; con: 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018); D, chỉ bản số 299 lập ngày 16/4/2024 tại Công an quận H;

    Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 279/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/3/2023.

    Nhân thân: Ngày 20/9/2011, Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2-Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

  2. Trần Văn C, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; HKTT: P, xã B, huyện M, T.P H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1972; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 2001; con: 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020); D, chỉ bản số 205 lập ngày 20/3/2024 tại Công an quận H;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2015/HSST ngày 23/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2017 (Đã xóa án tích).

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2-Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Bá Thành L1, sinh năm 2004; HKTT: xóm B, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số I, ngõ B N, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Anh Lã Xuân T3, sinh năm 2000; HKTT: TDP C, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: số B - B P, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Anh Phạm Văn S, sinh năm 1985; địa chỉ: số nhà U - L khu đô thị Đ, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
  • + Chị Nguyễn Gia L2, sinh năm 2004; HKTT: Xã L, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: số nhà B khu tập thể T, tổ I, P, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 2001 (vợ bị cáo C); địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
  • + Chị Lê Thị H1, sinh năm 1998 (vợ Nguyễn Văn B); HKTT: V, Ứ, Hà Nội; (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn CNguyễn Văn B có quan hệ bạn bè với nhau do thiếu tiền ăn tiêu nên rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Để thực hiện hành vi trộm cắp, Trần Văn C đã bàn bạc với Nguyễn Văn B chuẩn bị 01 bộ vam phá khoá, 01 tay công, 02 mũ bảo hiểm (01 mũ bảo hiểm Grabike màu xanh, 01 mũ bảo hiểm Ahamove màu cam), 01 túi đựng đồ màu đỏ nhãn hiệu “Now Food”, 01 áo G bike màu xanh, điều khiển xe máy đi loanh quanh tại các tuyến phố thuộc địa bàn quận H, thành phố Hà Nội để tìm xem có ai để tài sản (xe máy) sơ hở thì lấy trộm. Do C không biết phá khóa nên C đứng ngoài cảnh giới còn Ba trực tiếp vào trộm cắp. Trong thời gian tháng 02/2024, CB đã cùng nhau thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận H, Hà Nội, cụ thể như sau:

- Vụ thứ 1: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Ba và C rủ nhau đi trộm cắp tài sản. C đã chuẩn bị 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc biển kiểm soát 18D1-388.92 đăng ký mang tên vợ của C là Nguyễn Thị T2, sinh năm 2001, HKTT: Xã B, huyện M, thành phố Hà Nội. Để tránh bị phát hiện, C đã tháo biển kiểm soát xe này ra và lắp 01 biển kiểm soát 29Y2-5616 (Do C nhặt được) vào xe của chị T2. Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, B điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đeo biển kiểm soát 29Y2 - 5616 chở C đi lang thang quanh khu vực phường M, quận H mục đích để trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến trước nhà số I, ngõ B N, phường M, quận H phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc biển kiểm soát 18D1 - 777.98 của anh Nguyễn Bá Thành L1 sinh năm 2004, HKTT xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định dựng ở sân phòng trọ không khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. C ở ngoài cảnh giới còn Ba đi vào dùng vam phá khoá phá ổ khoá xe rồi điều khiển xe máy trộm cắp được bán cho 01 người không quen biết tại khu vực xã A, huyện M, Hà Nội được 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Ba chia cho C 2.000.000 đồng, các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ 2: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, Ba điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh tím than, đeo biển kiểm soát 28H1 - 039.02 chở C đi lang thang quanh khu vực phường L, quận H mục đích trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến trước số nhà B - B P, phường L, quận H phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen biển kiểm soát 29T2-193.99 của anh Lã Xuân T3 sinh năm 2000, HKTT: TDP C, phường L, quận H, Hà Nội dựng ở sân nhà không khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. C ở ngoài cảnh giới còn Ba đi vào dùng vam phá khoá phá ổ khoá xe rồi điều khiển xe máy trộm cắp được mang bán cho một người không quen biết liên hệ qua mạng xã hội ở khu vực xã A, huyện M, TP Hà Nội được 4.000.000 đồng. Ba chia cho C 2.000.000 đồng, các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ 3: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, Ba điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh tím than biển kiểm soát 28H1 - 039.02 chở C đi lang thang quanh khu vực phường Y, quận H mục đích trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến trước số nhà U - L15 khu đô thị Đ, phường Y, quận H thì phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc biển kiểm soát 29T2-153.51 của anh Phạm Văn S sinh năm 1985, HKTT: Y, H, Hà Nội, dựng ở trên vỉa hè không khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. C ở ngoài cảnh giới còn Ba đi vào dùng vam phá khoá phá ổ khoá xe rồi điều khiển chiếc xe máy trộm cắp được mang bán cho người không quen biết qua mạng xã hội ở khu vực xã A, huyện M, TP Hà Nội được số tiền 4.000.000 đồng. Ba chia cho C số 2.000.000 đồng, các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ thứ 4: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/02/2024, B điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh tím than biển kiểm soát 28H1 – 039.02 chở C đi lang thang quanh khu vực phường P, quận H, TP Hà Nội mục đích trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến bãi đất để xe khu tập thể tài chính, tổ I, phường P, quận H thì phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc biển kiểm soát 29X7-680.54 của chị Nguyễn Gia L2 sinh năm 2004, HKTT xã L, huyện T, Hà Nội dựng ở bãi để xe không khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. C ở ngoài cảnh giới, B đi vào dùng vam phá khoá phá ổ khoá xe rồi điều khiển xe máy vừa trộm cắp được mang bán cho người không quen biết qua mạng xã hội ở khu vực xã A, huyện M, TP Hà Nội được số tiền 3.500.000 đồng. Ba chia cho C 1.750.000 đồng, các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết. (Bút lục 210-221).

Ngày 26/02/2024 và 28/02/2024, chị Nguyễn Gia L2 và anh Nguyễn Bá Thành L1 có đơn trình báo. Ngày 10/3/2024, anh Lã Xuân T3 và anh Phạm Văn S có đơn trình báo.

Ngày 10/3/2024, Trần Văn C đến Cơ quan CSĐT Công an quận H xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đồng thời giao nộp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave không biển kiểm soát màu trắng- đen - bạc, số khung RLHHC1256FY277903; số máy HC 12E 7277981 đã qua sử dụng mà C sử dụng làm phương tiện để trộm cắp tài sản cùng với Ba.

Ngày 11/03/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra các lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở số C, 370 đối với Trần Văn C, Nguyễn Văn B. Kết quả khám xét không thu giữ được gì.

Ngày 12/4/2024, Nguyễn Văn B xin đầu thú tại cơ quan Cơ quan CSĐT Công an quận H và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ:

  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave không biển kiểm soát, màu trắng- đen - bạc, số khung RLHHC1256FY277903; số máy HC12E7277981 đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) đoạn video chứa nội dung liên quan đến vụ án xảy ra ngày 17/02/2024 do chị Lò Thị L3, sinh năm 1973, hộ khẩu thường trú tại số B, N, phường M, quận H, Hà Nội giao nộp.
  • - 01 (một) đoạn video chứa nội dung liên quan đến vụ án xảy ra ngày 17/02/2024 do anh Bạch Văn T4, sinh năm 1954, hộ khẩu thường trú tại số B, N, phường M, quận H, Hà Nội giao nộp.
  • - 01 (một) đoạn video chứa nội dung liên quan đến vụ án xảy ra ngày 22/02/2024 do anh Lã Xuân T3 giao nộp.
  • - 01 (một) đoạn video chứa nội dung liên quan đến vụ án xảy ra ngày 23/02/2024 do anh Phạm Văn S giao nộp.

Ngày 08/3/2024 và ngày 11/03/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã có các Yêu cầu định giá tài sản số 1938, số 1955, số A gửi Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H để xác định giá trị của 04 chiếc xe máy nêu trên.

- Tại Bản Kết luận định giá số 33 ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS Quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc biển kiểm soát 29X7-680.54, số máy JA39E3108777, số khung RLHJA3927PY408966 (đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật) có trị giá là 19.600.000 đồng.

- Tại Bản Kết luận định giá số 34 ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc biển kiểm soát 18D1-773.98, số máy JA39E3101913, số khung RLHJA3924PY480840 (đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật) có trị giá là 18.666.000 đồng.

- Tại Bản Kết luận định giá số 35 ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS Quận H, kết luận:

  • + Giá trị tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29T2 – 193.99, số máy JA39E3106238, số khung RLHJA3924PY717858 (đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật) có trị giá là 18.666.000 đồng.
  • + Giá trị tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 29T2–153.51, số máy JA39E2918684, số khung RLHJA392XNY478085 (đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật) có trị giá là 20.288.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là: 77.220.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng)

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại: Anh Nguyễn Bá Thành L1, anh Phạm Văn S, anh Lã Xuân T3 và chị Nguyễn Gia L2 đã được đại diện của gia đình Trần Văn C và Nguyễn Văn B bồi thường giá trị của chiếc xe máy bị C và Ba trộm cắp. Sau khi nhận được bồi thường, các bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 153/CT-VKS-HĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Văn Ba, Trần Văn Cương về tội: Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông duy trì quyền công tố: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn B từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/4/2024.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Văn C từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình các bị cáo đã bồi thường cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Người liên quan chị Lê Thị H1, chị Nguyễn Thị T2 không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn tiền đã bồi thường bị hại thay cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị HĐXX xem xét giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ ngày 17/02/2024 đến ngày 24/02/2024, tại địa bàn các phường M, L, Y, P, quận H, thành phố Hà Nội, các bị cáo Nguyễn Văn BTrần Văn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 04 chiếc xe máy của các bị hại là anh Nguyễn Bá Thành L1, anh Lã Xuân T3, anh Phạm Văn S và chị Nguyễn Gia L2. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 77.220.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn B, Trần Văn C đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Nguyễn Văn B, Trần Văn C về tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án, hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Vụ án có tích chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng bàn bạc, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện phạm tội, B trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, còn C thì đứng cảnh giới.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:

Bị cáo Ba và C phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngày 23/9/2022, Nguyễn Văn B đã bị TAND quận Hoàng Mai xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú, gia đình bị cáo đã bồi thường tiền thiệt hại cho các bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo yên tâm cải tạo.

Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Bá Thành L1, anh Phạm Văn S, anh Lã Xuân T3 và chị Nguyễn Gia L2 đã được đại diện của gia đình Trần Văn C và Nguyễn Văn B bồi thường giá trị của chiếc xe máy bị C và Ba trộm cắp, không có đề nghị gì về bồi thường dân sự do đó HĐXX không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave không BKS màu trắng- đen- bạc, số khung RLHHC1256FY277903; số máy HC12E7277981 đã qua sử dụng, là phương tiện mà ngày 17/02/2024 C đã sử dụng để đi trộm cắp tài sản cùng với Ba. Khi đi trộm cắp tài sản, C tháo biển kiểm soát 18D1-388.92 (hiện tại C không nhớ để ở đâu) và lắp biển kiểm soát 29Y2-5616 do C đặt nhặt được ở trên đường không rõ địa điểm. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên có biển kiểm soát 18D1-388.92 đăng ký sở hữu mang tên Nguyễn Thị T2, sinh năm 2001; HKTT: Thôn P, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội (là vợ của C). Ngày 17/02/2024, Trần Văn C đã tự ý mang xe máy trên để đi trộm cắp tài sản nhưng chị T2 không biết, xe không nằm trong dữ liệu vật chứng. Chị T2 có đơn xin lại xe máy làm phương tiện đi lại. Do đó trả lại cho chị T2 chiếc xe máy nói trên.

Đối với vam phá khóa, tay công, biển kiểm soát 28H1-039.02 và biển kiểm soát 29Y2-5616, 02 mũ bảo hiểm (01 mũ bảo hiểm Grabike màu xanh, 01 mũ bảo hiểm ahamove màu cam), 01 túi đựng đồ màu đỏ nhãn hiệu “Now Food”, 01 áo G bike màu xanh. Quá trình điều tra, xác định sau khi trộm cắp tài sản vào ngày 24/02/2024, B và C đã vứt tay công, vam phá khóa, 02 biển kiểm soát, 02 mũ bảo hiểm (01 mũ bảo hiểm Grabike màu xanh, 01 mũ bảo hiểm ahamove màu cam), 01 túi đựng đồ màu đỏ nhãn hiệu “Now Food”, 01 áo G bike màu xanh ở dọc đường, không rõ vị trí, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh tím than (xe Ba mua trên mạng xã hội, không biết của ai) B đã bán cho người không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan CSĐT Công an quận H không có căn cứ để tiến hành truy tìm vật chứng

[6] Các nội dung khác.

Đối với người mua xe máy của C và Ba: Nguyễn Văn B khai liên lạc qua mạng xã hội, sau đó mang đến khu vực A, huyện M, TP H để bán nhưng rõ tên tuổi cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được người mua.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 45; 46; 106; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;

1- Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B, Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2- Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/4/2024.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Văn C 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/3/2024.

3- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự

Trả lại cho chị Nguyễn Thị T2 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave không biển kiểm soát màu trắng- đen- bạc, số khung RLHHC1256FY277903; số máy HC12E7277981.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông).

4- Về án phí:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - UBND phường (xã) nơi bị cáo cư trú;
  • - Lu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 179/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger