|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 179/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-8-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Quí; ông Trần Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 130B/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Cẩm H, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. SĐT: 0939.870.xxx
- Bị đơn: Anh Trần Tiến L, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. SĐT: 0918.706.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Chị và anh L tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng lâu dần phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên bất hòa nhưng không có biện pháp hàn gắn hiệu quả nên mâu thuẫn càng lúc càng trầm trọng, đến năm 2018 thì quyết định sống ly thân. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.
Về con chung: Có một con chung tên Trần Vũ Gia K, sinh ngày 10/3/2008. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự nhưng bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn; yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị Cẩm H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Tiến L, yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. Anh Trần Tiến L có hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3] Xét việc tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14/12/2006 tại UBND thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo chị H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cự cãi mà không có biện pháp hàn gắn, nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn anh L.
[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để hai bên có cơ hội hàn gắn nhưng anh L đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn, cho chị H được ly hôn anh L.
[4] Về con chung: Có một con chung tên Trần Vũ Gia K, sinh ngày 10/3/2008 hiện đang sống với chị H, khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Nhận thấy cháu K đang sống với chị H, chị H cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi con nên để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu K cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; về cấp dưỡng: do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định, bị đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Vũ Thị Cẩm H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Cẩm H được ly hôn anh Trần Tiến L.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Vũ Gia K, sinh ngày 10/3/2008 cho chị Vũ Thị Cẩm H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Tiến L không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Tiến L và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Vũ Thị Cẩm H. Chị Vũ Thị Cẩm H và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Tiến L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị Cẩm H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013900 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, chị H không phải nộp thêm. Anh Trần Tiến L không phải chịu án phí. Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 179/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 179/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị Cẩm H Ly Hôn Anh Trần Tiến L
