|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 179/2024/HSST Ngày: 01/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Hùng
- 2. Bà Hoàng Thị Cát Phương
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Phương Thảo – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 194/2024/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
1- Họ và tên: Nguyễn Văn G Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 28/12/2005, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: Lớp 3/12 - Nghề nghiệp: Không.
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không
Họ tên cha: Nguyễn Tấn X (đã chết).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T (đã chết).
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N.
2. Họ và tên: Lý Ngọc G1 Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 07/3/2008, tại tỉnh Bạc Liêu.
Nơi thường trú: 100 Đoàn Thị Đ, khóm F, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: Lớp 6/12 - Nghề nghiệp: Không.
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không
Họ tên cha: Lý Văn V - Sinh năm 1983 (còn sống).
Họ tên mẹ: Lâm Trúc P - Sinh năm 1984 (còn sống).
Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là anh và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N.
Người bị hại: ông Phan Hoàng Anh K, sinh ngày 27/02/2008
Đại diện hợp pháp của bị hại K: Ông Phan Quốc V1 và bà Nguyễn Thị Kim D
Cùng địa chỉ: Cầu X, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Lý Ngọc G1: Bà Lâm Trúc P, sinh năm 1984 và Lý Văn V, sinh năm 1983
Cùng địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Ngọc G1 – Trợ giúp viên pháp lý: Bà Bùi Thị H
(Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo G1, trợ giúp viên pháp lý của bị cáo Giàu có m, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn G quen biết với Phan Hoàng Anh K (sinh ngày 27/02/2008, ngụ tại khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) và có vay tiền của K. Khoảng 10 giờ ngày 17/02/2024, G nảy sinh ý định cướp tài sản của K nên điện thoại hẹn gặp K vào lúc 14 giờ cùng ngày tại khu vực rừng tràm gần Khu tái định cư X để trả tiền cho K.
Thực hiện ý định trên. Giàu chuẩn bị 01 con dao dài khoảng 25cm giấu trong túi áo khoác, sau đó rủ Lý Ngọc G1 cùng đi cướp tài sản của anh K, Lý Ngọc G1 đồng ý.
Đến 14 giờ cùng ngày, Văn G điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 60C2-24328 chở Ngọc G1 đến điểm hẹn gặp K. Đến nơi, Văn G cầm dao và đâm nhẹ mũi dao lên đùi trái của K đe dọa yêu cầu K giao tiền và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax cho Văn G, nhưng K không đồng ý. Thấy vậy, Ngọc G1 dùng tay đánh 03 cái vào mặt K, K bị uy hiếp nên đã lấy số tiền 395.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax giao cho Văn G. Văn Giàu chiếm đoạt số tài sản trên của K rồi cùng Ngọc G1 bỏ đi, trên đường Đ đã vứt con dao tại khu vực rừng tràm.
Sau khi phạm tội Văn G và Ngọc G1 đi chơi game và tiêu xài hết số tiền đã chiếm đoạt. Riêng chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax thì Ngọc G1 cất giữ. Khoảng 16 giờ cùng ngày, bà Lâm Trúc P (mẹ Lý Ngọc G1) biết việc Ngọc G1 chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax của K nên nói Ngọc G1 đưa chiếc điện thoại trên cho ông Lý Văn Vũ (ba ruột của Ngọc G1) trả lại cho K. Đến ngày 19/02/2024, Nguyễn Văn G và Lý Ngọc G1 ra đầu thú và khai nhận như trên.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- - 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Wave biển số 60C2-24328 của anh Trần Tiến L, Văn G mượn xe của anh L đi công việc, anh L không biết Nguyễn Ngọc G2 dùng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả cho anh L.
- - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax đã trả cho Phan Hoàng Anh K.
- Đối với 01 con dao dài khoảng 25cm, Văn G sử dụng uy hiếp Kiệt: sau khi gây án Văn Giàu đã vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tìm kiếm nhưng không thu hồi được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N kết luận 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promaxcó giá trị là 12.150.000 đồng (mười hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Anh K đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 395.000 đồng nên không đặt ra giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa tuyên: Buộc Nguyễn Văn G liên đới cùng bà Lâm Trúc P (là mẹ ruột của Lý Ngọc G1) và ông Lý Văn V (là ba ruột của Lý Ngọc G1) nộp lại số tiền 395.000 đồng do Văn G và Ngọc G1 chiếm đoạt của Phan Hoàng Anh K để sung công quỹ Nhà nước.
Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 196/CT/VKS-NT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo, về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, khi phạm tội bị cáo Ngọc G1 ở độ tuổi vị thành niên chưa tới 16 tuổi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 91, điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn G rủ rê bị cáo tuổi vị thành niên phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1 điều 52 Bộ Luật Hình sự
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo với mức án như sau:
- Bị cáo Nguyễn Văn G mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
- Bị cáo Lý Ngọc G1 mức án từ 04 năm tù đến 05 năm tù.
Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo Ngọc G1: Thống nhất quan điểm về tội danh và mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo phạm tội trong độ tuổi vị thành niên.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa tuyên: Buộc Nguyễn Văn G liên đới cùng bà Lâm Trúc P (là mẹ ruột của Lý Ngọc G1) và ông Lý Văn V (là ba ruột của Lý Ngọc G1) nộp lại số tiền 395.000 đồng do Văn G và Ngọc G1 chiếm đoạt của Phan Hoàng Anh K để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Vào ngày 17/02/2024, Văn G điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 60C2-24328 chở Ngọc G1 đến điểm hẹn gặp K. Đến nơi, Văn G cầm dao và đâm nhẹ mũi dao lên đùi trái của K đe dọa yêu cầu K giao tiền và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax cho Văn G, nhưng K không đồng ý. Thấy vậy, Ngọc G1 dùng tay đánh 03 cái vào mặt K, K bị uy hiếp nên đã lấy số tiền 395.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax giao cho Văn G. Văn Giàu chiếm đoạt số tài sản trên của K rồi cùng Ngọc G1 bỏ đi, trên đường Đ đã vứt con dao tại khu vực rừng tram và theo kết luận điều tra 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promaxcó giá trị là 12.150.000 đồng (mười hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
[3] Về tội danh:
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Về vai trò đồng phạm: Bị cáo Văn G với vai trò chủ mưu cầm đầu rủ rê bị cáo Ngọc G1 ở độ tuổi vị thành niên phạm tội với vai trò giúp sức tích cực nên mức hình phạt của bị cáo Văn G sẽ cao hơn bị cáo Ngọc G1.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã cố tình vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự và gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt và nhằm để răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Trong vụ án bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền, riêng bị cáo Ngọc G1 phạm tội ở độ tuổi vị thành niên chưa tới 16 tuổi theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điều 101, điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn G rủ rê bị cáo Ngọc G1 ở độ tuổi vị thành niên phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1 điều 52 Bộ Luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
[9] Đối với phần trình bày của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Lý Ngọc G1 xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 điều 52, điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn G mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 58, điều 91, điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Lý Ngọc G1 mức án 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc Nguyễn Văn G liên đới cùng bà Lâm Trúc P (là mẹ ruột của Lý Ngọc G1) và ông Lý Văn V (là ba ruột của Lý Ngọc G1) nộp lại số tiền 395.000 đồng do Văn G và Ngọc G1 chiếm đoạt của Phan Hoàng Anh K để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Thu Thương |
Bản án số 179/2024/HSST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản
- Số bản án: 179/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 17/02/2024, Văn Giàu điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 60C2-24328 chở Ngọc Giàu đến điểm hẹn gặp Kiệt. Đến nơi, Văn Giàu cầm dao và đâm nhẹ mũi dao lên đùi trái của Kiệt đe dọa yêu cầu Kiệt giao tiền và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax cho Văn Giàu, nhưng Kiệt không đồng ý. Thấy vậy, Ngọc Giàu dùng tay đánh 03 cái vào mặt Kiệt, Kiệt bị uy hiếp nên đã lấy số tiền 395.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax giao cho Văn Giàu. Văn Giàu chiếm đoạt số tài sản trên của Kiệt rồi cùng Ngọc Giàu bỏ đi, trên đường đi Văn Giàu đã vứt con dao tại khu vực rừng tram và theo kết luận điều tra 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promaxcó giá trị là 12.150.000 đồng (mười hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
