Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2024/HS-PT

Ngày: 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như
Bà Lê Thị Tân

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 232/2024/TLPT-HS ngày 28/8/2024 đối với bị cáo Đậu Văn D, Đậu Văn D1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 17/7/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo:

  1. Đậu Văn D, sinh ngày: 20/02/1993, tại xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính; Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Đậu Văn D2 và bà: Lê Thị C (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/01/2024, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Xâm hại sức khỏe người khác" cùng trong vụ án này (QĐ số 51/QĐ-XPHC). Bị cáo bị áp dụng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú" kể từ ngày 27/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa;
  2. Đậu Văn D1, sinh ngày: 16/01/1988, tại xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Đậu Văn Q (đã chết) và bà: Lường Thị T; Có vợ: Nguyễn Thị V (đã ly hôn); Có 02 con; Tiền sự: Không Tiền án: Tại bản án số 95/2009/HSST ngày 28/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương đã xử phạt Đậu Văn D1 04 tháng 05 ngày tù về tội: "Trộm cắp tài sản" Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam (Bị cáo chưa nộp án phí). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" kể từ ngày 14/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Các bị cáo không kháng cáo, kháng nghị: Nguyễn Văn K, Mai Văn T1, Bùi Khắc Dương M, Liêu Văn V1, Nguyễn Anh T2, Lường Đình H, Ngô Thanh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, Đậu Văn D, Nguyễn Anh T2, Lường Đình H và Đậu Văn D1 đang ăn nhậu tại quán “Công Định” của gia đình anh Nguyễn Thái C1. Cùng lúc này ở bàn bên cạnh có Nguyễn Văn K cùng với Ngô Thanh L và Liêu Văn V1 cũng đang ăn nhậu. Do trước đó giữa D và K có mâu thuẫn nên D đi sang bàn của K dùng tay tát K 02 cái vào mặt, sau đó được mọi người can ngăn nên nhóm D, T2, H và D1 ra về.

Do bực tức việc bị D đánh nên K gọi điện cho Bùi Khắc Dương M đến quán. M lúc này đang ngồi uống nước cùng với Mai Văn T1, Lê Công T3 và Nguyễn Trọng T4 tại khu vực đê biển H nên M rủ cả bọn cùng đi, cả bọn đồng ý, M điều khiển xe mô tô chở T4, T3 và T1 đến chỗ K.

Sau khi gặp nhau, K, L, V1, M, T4, T3 và T1 đi đến khu vực cầu trại thuộc xã N, tại đây K có rủ cả nhóm đi tìm đánh nhóm D nhưng mọi người can ngăn. Lúc này, K thấy đau đầu nên nhờ L chở đi bệnh viện kiểm tra, thì M cũng điều khiển xe mô tô chở T3 và V1, T4 điều khiển xe mô tô chở T1 đi theo sau. Khi đi đến khu vực cống thuộc tổ dân phố E, phường H, thị xã N thì nhóm của K gặp D1 điều khiển xe mô tô chở T2 đi ngang qua nên K bảo L điều khiển xe đuổi theo T2 và D1, thấy vậy V1, T1, T3, T4 và M cũng đuổi theo phía sau. Đuổi theo được khoảng 700m đến gần nhà nghỉ A ở tổ dân phố D, phường H, thị xã N thì nhóm của K dừng lại. K bảo cả nhóm đứng đợi, rồi cùng với L đi xe mô tô đến nhà H. Khi đến nơi, thấy không ai ở nhà nên K đi vào vườn nhà G lấy 05 đoạn ống tuýp bằng kim loại, mỗi đoạn dài khoảng 01 mét, đường kính khoảng 03cm cho vào bao tải (số ống tuýp này K khai trước đó đã nhặt được để trong vườn nhà G) rồi cùng L quay lại chỗ cả nhóm đang đợi. Khi đến nơi, K cầm 01 đoạn ống tuýp và đưa cho L, T1, M, V1, mỗi người 01 đoạn ống tuýp. Sau đó, cả nhóm cùng nhau đi về khu vực ngã tư thuộc thôn I, xã N, thị xã N (gần quán nhậu của anh C1) để tìm nhóm của D.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi D1 và T2 bị nhóm của K lùa đuổi, T2 gọi điện báo cho D biết. Lúc này D đang ở nhà cùng với H, nên Danh cầm theo 01 con dao dài 40cm, cán gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm bảo H điều khiển xe mô tô chở D đến chỗ T2. Khi đi đến thôn H, xã N, thì D và H gặp D1 và T2, cả bọn đi tìm nhóm của K. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm của K thấy nhóm của D đi đến khu vực ngã tư thuộc thôn I, xã N, thị xã N, gần quán Định Công, thì nhóm của K quay lại đoạn đường cách quán anh C1 khoảng 40m thì dừng xe lại. K, L, T1, M và V1 mỗi người cầm 01 đoạn ống tuýp, K, T1, V1 đi xuống ruộng ngô ẩn nấp, còn T3, L, M và T4 thì đứng trên đường chờ nhóm của D. Khi thấy D, H, T2 và D1 đi trên 02 xe mô tô đến, thì K, V1 và T1 từ dưới ruộng ngô chạy lên cùng với M, L cầm ống tuýp lùa đuổi đánh nhóm của D, T1 dùng tuýp vụt trúng lưng của D1 làm D1 ngã xuống đường, Danh cầm dao chém về nhóm của K nhưng không trúng ai, T2 cũng nhặt gạch, đá ven đường ném về phía nhóm của K nhưng không trúng ai. Thấy D cầm dao và T2 dùng gạch, đá ném nên nhóm của K bỏ chạy về hướng phường H. D và T2 đuổi theo nhóm của K, D túm được T4, T4 dùng hai tay ôm đầu thì bị D dùng dao đập 02 cái trúng vào tay trái của T4, T2 cũng xông lại dùng tay đấm 01 cái vào ngực của T4, T4 vùng ra bỏ chạy xuống ruộng rồi chạy về hướng phường H, sau đó chui vào bụi tre trốn. T2 và D không đuổi theo nữa mà quay lại cùng với H và D1 đi về. Khi thấy nhóm của D bỏ đi, thì nhóm của K quay lại tìm T4 nhưng không thấy nên cũng đi về, còn T4 bị thương nên đã gọi cho người nhà đến đưa đi Bệnh viện điều trị.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 987/KLTTCT-PYTH ngày 21/6/2023, Trung tâm P kết luận: “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trọng T4 tại thời điểm giám định là: 08%”.

Tại kết luận giám định số 2596/KL-KTHS ngày 10/7/2023, Phòng K1 kết luận:

  • - Trên con dao dài 40cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm gửi giám định không tìm thấy máu người; có tế bào của nhiều người, không tách được kiểu gen riêng biệt của từng người.
  • - Lưu kiểu gen (theo hệ G1): Không”.

Đối với thương tích của Nguyễn Trọng T4, quá trình điều tra xác định là do Đậu Văn D và Nguyễn Anh T2 gây ra còn thương tích của Đậu Văn D1 là do Mai Văn T1 gây ra. Tuy nhiên, T4 không yêu cầu khởi tố và D1 do chỉ bị thương nhẹ nên từ chối giám định và cũng không yêu cầu khởi tố nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với D, T2 và T1 về hành vi cố ý gây thương tích. Cơ quan điều tra đã chuyển phần hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với D, T2 và T1 theo quy định của pháp luật.

Cũng trong quá trình điều tra xác định, hành vi điều khiển xe mô tô, cầm theo hung khí dao, tuýp sắt, gạch, đá lùa đuổi đánh, ném nhau của hai nhóm đối tượng lùa đuổi trên đoạn đường dài khoảng 700 mét, từ tổ dân phố E đến tổ dân phố D, phường H, thị xã N và ở thôn I, xã N, thị xã N, là những tuyến đường dân sinh 02 bên có dân cư và hàng quán kinh doanh trong khoảng thời gian từ 23 giờ 00 phút đến 23 giờ 30 phút đã làm náo loạn cả đoạn đường và khu dân cư, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực này, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội trên địa bàn.

Đối với Lê Công T3 có hành vi ngồi phía sau xe mô tô do Bùi Khắc Dương M điều khiển đi cùng với nhóm của K đến khu vực đường dân sinh thuộc thôn I, xã N, thị xã N. Tuy nhiên, khi bị nhóm của D lùa đuổi thì T3 bỏ chạy và không tham gia lùa đuổi đánh nhau với lại nhóm của D nên T3 không phạm tội gây rối trật tự công cộng.

Đối với Nguyễn Trọng T4 cũng có hành vi điều khiển xe mô tô chở Mai Văn T1 đi theo nhóm của K đến khu vực đường dân sinh thuộc thôn I, xã N, thị xã N. Tuy nhiên, sau khi bị D và T2 lùa đuổi, đánh gây thương tích, thì T4 bỏ chạy trốn, không tham cùng với nhóm của K lùa đuổi, đánh lại nhóm của D, nên T4 cũng không phạm tội gây rối trật tự công cộng.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đậu Văn D 01 con dao dài 40cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, chiều rộng lưỡi dao phần đầu vuông là 07cm, chiều rộng phần hẹp nối với cán dao là 03cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của người tham gia niêm phong và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T (Vật chứng hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định).

Riêng đối với các hung khí như 05 đoạn ống tuýp bằng kim loại, các cục gạch, đá mà các bị can đã sử dụng đánh, ném nhau, các bị cáo khai sau đó đã vứt tại hiện trường nơi xảy ra vụ việc, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Đậu Văn D, Nguyễn Anh T2 đã bồi thường cho Nguyễn Trọng T4 số tiền 15.000.000 đồng, T4 không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về dân sự, còn Đậu Văn D1 không yêu cầu Mai Văn T1 bồi thường thiệt hại về thương tích.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 17/7/2024 của
TAND thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Đậu Văn D); Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Đậu Văn D1).

Tuyên bố: Bị cáo Đậu Văn D, Đậu Văn D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Đậu Văn D 26 (hai mươi sáu) tháng tù; Đậu Văn D1 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác từ 18 – 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  • * Ngày 23 tháng 7 năm 2024, Đậu Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
  • * Ngày 29 tháng 7 năm 2024, Đậu Văn D1 kháng cáo với các nội dung:
  • - Bản án sơ thẩm đánh giá và áp dụng tình tiết “dùng hung khí...” để định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo Khoản 2 Điều 318 BLHS là chưa đúng với diễn biến của vụ án. Bản thân bị cáo không biết và không liên quan đến hung khí của cả hai nhóm, nên việc áp dụng tình tiết “dùng hung khí...” với bị cáo là chưa đủ căn cứ.
  • - Tòa án áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo do chưa nộp tiền án phí là chưa phù hợp, chưa áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, vì Toà án chậm trễ chuyển bản án dẫn đến Cơ quan thi hành án chậm ban hành Quyết định thi hành án là lỗi của Cơ quan Nhà nước chứ không phải lỗi của người bị kết án, nên bị cáo được áp dụng nguyên tắc có lợi không thuộc trường hợp tái phạm. Đề nghị giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
  • * Tại phiên tòa phúc thẩm:
  • - Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  • - Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Văn D1, giữ nguyên hình phạt của bị cáo; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Văn D: giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo D được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
  • - Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để quyết định.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
  2. [2] Xét kháng cáo của các bị cáo:

    Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 00 phút đến 23 giờ 30 phút ngày 29/5/2023, tại khu vực đường dân sinh từ tổ dân phố E đến tổ dân phố D, phường H và thôn I, xã N, thị xã N, các bị cáo Nguyễn Văn K, Mai Văn T1, Ngô Thanh L, Liêu Văn V1, Bùi Khắc Dương M, Đậu Văn D, Nguyễn Anh T2, Lường Đình H, Đậu Văn D1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô lùa đuổi, sử dụng tuýp sắt, dao, gạch đá và tay chân đánh nhau làm náo loạn cả đoạn đường qua khu dân cư, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực này, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội đến an ninh trật tự tại địa phương.

    2.1. Xét kháng cáo của Đậu Văn D1:

    • - Theo Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03 tháng 4 năm 2019 giải đáp về một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính. Tại mục 7 Công văn có nêu: “...Trường hợp người bị kết án không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điều 70 của BLHS"
    • Như vậy, ngày 28/4/2009 Đậu Văn D1 bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 tháng 05 ngày tù về tội: "Trộm cắp tài sản" (Đến nay bị cáo chưa nộp án phí HSST). Do đó, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS là "Tái phạm" như đánh giá của án sơ thẩm là đúng quy định.
    • - Về nội dung kháng cáo bị cáo không biết Danh cầm theo hung khí (Dao) khi tham gia gây rối. Thì tại biên bản ghi lời khai ngày 17/4/2024 (BL 538, 539) bị cáo D1 thừa nhận nhìn thấy H chở D ngồi sau (D cầm 01 con dao), cả 04 người chở nhau đi tìm nhóm của K để đánh, đến ngã tư quán Đ thuộc thôn N gặp nhóm của K thì xảy ra việc lùa đuổi, đánh nhau như nội dung vụ án đã nêu, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo về nội dung này.
    • - Trong vụ án này bị cáo D1 có tiền án không thỏa mãn các điều kiện để hưởng án treo theo quy định của pháp luật và mức hình phạt đầu khung, bị cáo không có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS, lại có tình tiết tăng nặng nên không thể áp dụng điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định. Do vậy, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với D1 là phù hợp.

    2.2. Xét kháng cáo của Đậu Văn D:

    Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình đã tích cực tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo, trẻ em khuyết tật và trẻ mồ côi. Ngoài lần phạm tội này thì từ trước đến nay bị cáo cũng như gia đình luôn chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách pháp luật của Nhà N không có vi phạm gì. Sau khi xử sơ thẩm bị cáo lại tiếp tục hưởng ứng và ủng hộ đồng bào bị lũ lụt các tỉnh miền núi phía bắc (có xác nhận của chính quyền địa phương), nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, thống nhất đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đậu Văn D. Căn cứ vào Điều 65 BLHS, giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo Đậu Văn D được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền cũng đủ điều kiện cải tạo thành công dân tốt.

  3. [3] Về án phí: Bị cáo D1 phải chịu án phí HSPT. Bị cáo D không phải chịu án phí HSPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 355; Điểm e Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Văn D1; Chấp nhận một phần của bị cáo Đậu Văn D. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 17/7/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa về hình phạt của Đậu Văn D.
  2. Căn cứ:
    • - Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đậu Văn D.
    • - Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đậu Văn D1.

    Tuyên bố: Bị cáo Đậu Văn D, Đậu Văn D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt:

    • - Đậu Văn D1 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
    • - Đậu Văn D 26 (Hai sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    • Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  3. 3. Án phí: Bị cáo D không phải chịu án phí HSPT. Bị cáo D1 phải chịu 200.000đ án phí HSPT.
  4. 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7)
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND thị xã Nghi Sơn;
  • - Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Bị cáo
  • - Lưu hồ sơ vụ án
  • - Lưu VP Tòa Hình sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 179/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đậu Văn D cùng đồng phạm "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger