Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2025/HS-ST

Ngày 21 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành.

Ông Trần Minh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Huy L, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn A, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lê Thanh M, sinh năm 1962; Họ tên mẹ: Lê Thị B, sinh năm 1969; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Họ tên vợ: Lê Hoàng U, sinh năm 1994; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 15/2013/HSST ngày 23/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân (cũ), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 51 tháng 12 ngày, về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị can đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Nguyễn Anh Đ – Công ty L2, đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

Địa chỉ: Số D đường L, Phường K, Tỉnh Bắc Ninh.

2. Họ và tên: Đinh Văn V, sinh năm 1995, tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; nơi thường trú: thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Đinh Văn L1, sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 02/2021/HSST ngày 18/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Thường Xuân (cũ), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/12/2021 và các quyết định khác của Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B. (Có mặt)

* Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Khu K, phường K, tỉnh Bắc Ninh). (Vắng mặt)
  2. Anh Lê Sỹ T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N phát hiện, bắt quả tang Lê Huy L, sinh năm 1993, đăng ký hộ khẩu thường trú (ĐKHKTT): thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn A, xã T, tỉnh Thanh Hóa) và Đinh Văn V, sinh năm 1995, ĐKHKTT: thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa) có hành vi cất giấu trên người các viên nén hình tròn màu xanh, màu đỏ và chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ:

  • Tại túi quần trước bên phải của Đinh Văn V: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 07 viên nén hình tròn, trong đó: 06 viên màu đỏ và 01 viên màu xanh. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M1.
  • Tại túi quần trước bên trái của Lê Huy L: 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa các viên nén hình tròn màu đỏ và xanh; 02 gói giấy ăn màu trắng bên trong mỗi gói có 01 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M2.

L và V khai nhận các viên nén màu xanh, màu đỏ là ma túy “ngựa”, chất tinh thể màu trắng là ma túy “đá” (loại ma túy Methamphetamine), L và V cất giấu để bán. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang trước sự chứng kiến của anh Lê Sỹ T, sinh năm 1987, nơi thường trú: thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa và anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1996, nơi thường trú: khu K, phường K, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, còn tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xám, lắp sim số 0359.167.757. (BL 47-49)

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của L tại khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh), Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy (BL 50-51).

Trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh B, ngày 02/6/2025 Phòng K Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 1164/KL- KTHS, kết luận:

  • + 06 (sáu) viên nén hình tròn màu đỏ và 01 (một) viên nén hình tròn màu xanh bên trong 01 túi nilon màu trắng (phong bì thư ký hiệu M1) gửi giám định có khối lượng là 0,6572 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + Các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 18,6850 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 14,6997 gam; Là ma túy; Loại ma tủy: Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.” (BL 57).

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án xác định:

Lê Huy L và Đinh Văn V là người quen cùng quê tại xã T, tỉnh Thanh Hóa. Từ đầu năm 2025, L thuê V làm thợ xây cho L tại các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Để phục vụ cho việc nghỉ ngơi sau khi làm việc, L thuê nhà trọ tại khu L, phường N để sống cùng gia đình và thuê 01 nhà trọ tại khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh cho V và các thợ xây của L ở. Buổi trưa ngày 30/5/2025, người bạn xã hội của L tên là T1 quê ở tỉnh Nghệ An sử dụng tài khoản zalo (L lưu tên trong điện thoại là “Người Dưng”, số thuê bao 0344.893.635) nhắn tin, gọi điện thoại cho L và bảo L đến khu vực Khu E, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là Khu E, phường V, tỉnh Bắc Ninh) để lấy ma tuý về bán giúp cho T1. Bán ma tuý xong, L đưa số tiền có được từ bán ma túy cho T1 thì T1 sẽ trả công cho L 1.000.000 đồng. Do đang khó khăn về kinh tế nên L đồng ý bán ma tuý cho T1 và một mình đi xe ôm đến điểm hẹn. Tại khu E, phường Đ, T1 đưa cho L 02 gói giấy ăn màu trắng, bên trong mỗi gói có 01 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 túi nilon màu xanh chứa các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh là ma tuý “ngựa”; đồng thời bảo L bán ma tuý “đá” với giá 600.000đ/01gam và 100.000đ/ 01 viên ma tuý “ngựa”. L đồng ý rồi cầm số ma tuý T1 đưa cất vào túi quần phía trước bên trái và đi xe ôm về phòng trọ của V tại khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Lúc này tại phòng trọ chỉ có L và V, L lấy túi nilon màu xanh chứa các viên ma túy “ngựa” vừa nhận từ Thao ra lấy 07 viên ma tuý (gồm 06 viên màu đỏ, 01 viên màu xanh) cho vào 01 túi nilon màu trắng đưa cho V. L bảo V nếu có khách hỏi mua ma túy thì bán với giá là 100.000đ/01 viên, khi bán hết ma túy V đưa tiền cho L thì L cho V ma túy để sử dụng. Do V thường sử dụng ma túy nên đồng ý cầm túi nilon chứa ma túy “ngựa” L đưa cất vào túi quần trước bên phải V đang mặc để bán giúp L. Sau đó, L đi ra ngoài có việc thì anh Lê Sỹ T, sinh năm 1987, nơi thường trú: thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa đến phòng trọ của Vĩnh chơi. Một lúc sau L quay lại, L, V, T ngồi uống nước, nói chuyện tại phòng trọ của V. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra, thu giữ vật chứng như nêu trên. (BL 78-79, 106-107, 120-121)

Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, lắp sim số 0359.167.757 của L, phát hiện: Tại ứng dụng zalo, tên tài khoản của L là “Lehuylong” có cuộc gọi, tin nhắn với tài khoản tên “Người Dưng” số điện thoại đăng ký 0344.893.xxx. L khai nhận đó là các cuộc gọi và tin nhắn giữa L và T1 để trao đổi việc mua bán ma túy. (BL 109)

Tiến hành xác minh thông tin thuê bao số 0344.893.635: Tập đoàn C cung cấp thông tin chủ thuê bao là Nguyễn Bá T1, sinh năm 1997, ĐKHKTT: xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là xã B, tỉnh Nghệ An). Cơ quan điều tra làm việc với T1 xác định: Thao có đăng ký, sử dụng số điện thoại 0344.893.xxx nhưng không đăng ký, sử dụng tài khoản zalo. Từ tháng 5/2025, T1 vay tiền của người bạn xã hội tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) và cầm cố điện thoại kèm theo sim số 0344.893.635 để cho H1 sử dụng. T1 không biết H1 sử dụng điện thoại vào mục đích gì và cũng không quen biết Lê Huy L. Cơ quan điều tra tiến hành thu thập ảnh của Nguyễn Bá T1 để cho L nhận dạng, kết quả L không nhận dạng được T1 (người đã đưa ma tuý cho L ngày 30/5/2025) (BL 130-132).

* Vật chứng của vụ án:

  • 01 túi niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong đóng dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xám, lắp sim số 0359.167.757 thu giữ của bị can Lê Huy L.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSBN-P3 ngày 30/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Lê Huy L về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Đinh Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và xác nhận cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Bị cáo Lê Huy L trình bày: bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Do bị cáo gặp khó khăn về kinh tế nên khi T1 nhờ bán ma tuý, sau đó trả công cho bị cáo, bị cáo đã đồng ý. Về kết luận giám định chất ma tuý, khối lượng ma tuý, bị cáo nhất trí không có ý kiến gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Đinh Văn V trình bày: bị cáo quen biết xã hội với L, là thợ xây làm thuê cho L, được L nhờ bán ma túy hộ bị cáo đã đồng ý, mục đích để L cho ma túy để sử dụng. Bị cáo chưa kịp bán cho ai thì bị Cơ quan công an bắt giữ. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Huy L.
    • Xử phạt: bị cáo Lê Huy L từ 15 (Mười lăm) năm 06 (sáu) tháng đến 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn V.
    • Xử phạt: bị cáo Đinh Văn V từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi niêm phong ký hiệu PS3 24046089, trên túi có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K CÔng an tỉnh B bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật hoàn lại sau giám định.
    • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xám, bị vỡ màn hình, lắp sim số 0359.167.757 (thực tế nhận không kiểm tra được số sim, đằng sau sim có dãy số 8984048000330048037) thu giữ của bị cáo Lê Huy L.
  3. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Huy L trình bày tranh luận: nhất trí tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo. Bị cáo đã thừa nhận về sai phạm của mình, Luật sư nhất trí đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về hình phạt bị cáo bị truy tố tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo có 02 con nhỉ, gia đình khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo L không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo L nhất trí với lời bào chữa của Luật sư bào chữa.

Bị cáo Đinh Văn V không có ý kiến tranh luận gì.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận đối đáp: căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo L, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị.

Bị cáo L nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

Bị cáo V nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa những người chứng kiến vắng mặt đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ, được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, do đó sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Xét hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ 15 phút ngày 30/5/2025 tại nhà trọ của Đinh Văn V ở khu T, phường N, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N bắt quả tang Đinh Văn V đang cất giấu 0,6572 gam ma túy Methamphetamine, Lê Huy L đang cất giấu 33,3847 gam ma túy Methamphetamine. Tổng khối lượng 34,0419 gam chất ma túy Methamphetamine lực lượng Công an thu giữ được là do L nhận của người thanh niên tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) tại Khu E, phường V, tỉnh Bắc Ninh, mục đích bán cho khách giúp T1 để nhận tiền công 1.000.000 đồng. Vĩnh giúp L bán 0,6572 gam chất ma túy Methamphetamine cho khách, mục đích để được L cho chất ma túy sử dụng. Tuy nhiên, L và V chưa kịp bán ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

[4]. Các bị cáo Lê Huy L và Đinh Văn V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo Lê Huy L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 và bị cáo Đinh Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng quy định.

[5]. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

[6]. Đối với bị cáo Lê Huy L: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội đặc đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý mà còn bởi ma tuý là chất gây nghiện, là hiểm hoạ và là nguồn gốc dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo đưa ma tuý cho V để Vĩnh giúp bị cáo bán ma tuý và hứa trả công bằng việc cho V ma tuý để sử dụng, do đó L có vai trò lớn nhất trong vụ án. Bị cáo L chỉ vì hám lợi đã ngang nhiên mua bán ma tuý với số lượng lớn 34,0419gam. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội, bản thân bị cáo đã có nhân thân xấu về tội “Cố ý gây thương tích”. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự và có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[7]. Đối với bị cáo Đinh Văn V: Bị cáo được Lê Huy L nhờ bán ma tuý và hứa trả công bằng việc cho bị cáo ma tuý để sử dụng, số ma tuý bị cáo đem bán 0,6572gam nên bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo L. Bản thân bị cáo V là người nghiện ma tuý, biết được tác hại của ma tuý nhưng chỉ vì cần ma tuý để sử dụng cho bản thân mà bị cáo đã tiếp tay, giúp bị cáo L bán ma tuý. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để bị cáo có thể nhận ra sai phạm của mình, đồng thời tạo điều kiện giúp bị cáo có thời gian cai nghiện để sau này trở thành người có ích cho xã hội.

[8]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[9]. Về nhân thân: Bị cáo L và bị cáo V đều có nhân thân xấu. Ngày 23/7/2013, bị cáo L đã bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 18/01/2021, bị cáo V đã bị xử phạt về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.

[10]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo L và bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[11]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[12]. Về hình phạt chính: Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, không chỉ giúp giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật mà còn răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội này trong xã hội.

[13]. Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, tội “mua bán trái phép chất ma tuý” còn quy định bổ sung là phạt tiền theo quy định khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, các bị cáo cũng chưa được thu lợi. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[14]. Do các bị cáo đang bị tạm giam nên căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam 45 ngày đối với bị cáo L và bị cáo V để đảm bảo thi hành án.

[15]. Về vật chứng của vụ án: 01(một) túi niêm phong ký hiệu PS3 24046089, trên túi có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xám, bị vỡ màn hình, lắp sim số 0359.167.757 (thực tế nhận không kiểm tra được số sim, đằng sau sim có dãy số 8984048000330048037) thu giữ của bị cáo Lê Huy L. Đây là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua bán, giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[16]. Các vấn đề khác:

[17]. Đối với người đàn ông tên T1, theo Lê Huy L khai nhận là người đưa chất ma túy cho L để bán: L không biết họ, tuổi, lai lịch, địa chỉ của T1 ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử chưa có căn cứ để xem xét giải quyết.

[18]. Đối với anh Lê Sỹ T có mặt tại phòng trọ của V khi cơ quan Công an bắt quả tang, anh T không biết L và V cất giấu chất ma túy trong người để bán nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[19]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Huy L.
    • Xử phạt: bị cáo Lê Huy L 15 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2025.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn V.
    • Xử phạt: bị cáo Đinh Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luạt tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3 24046089, trên túi có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật hoàn lại sau giám định
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xám, bị vỡ màn hình, lắp sim số 0359.167.757 (thực tế nhận không kiểm tra được số sim, đằng sau sim có dãy số 8984048000330048037) thu giữ của bị cáo Lê Huy L.
    • (Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKS-P3 ngày 26/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh và biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2025).
  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lê Huy L và bị cáo Đinh Văn V 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Huy L và bị cáo Đinh Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Viện phúc thẩm 1 - VKSND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 01 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 179/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 179/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025 đối với các bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger