|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:179/2025/HS-PT Ngày: 26 tháng 11 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn.
- Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ, bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 301/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Cao Văn L, do có kháng cáo của bị cáo L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Cao Văn L (Tên gọi khác: L), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993, tại huyện T (Nay là xã T), tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số H, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Lưu Văn L1 và bà Cao Thị K; chung sống như vợ chồng với Chu Nhật M, có 01 người con sinh năm 2023;
Tiền án: Có 02 tiền án.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2014/HS-ST ngày 04/7/2014, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 26/8/2016, chấp hành xong hình phạt tù;
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2018/HS-ST ngày 28/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 26/6/2020, chấp hành xong hình phạt tù và nộp xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, chưa bồi thường thiệt hại;
Tiền sự: Ngày 13/3/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng, đến ngày 08/8/2024 chấp hành xong;
2
Nhân thân:
- Ngày 06/8/2007, bị Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trường G, thời gian 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 15/11/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 26/8/2011, chấp hành xong;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh A; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Hoàng Thái B, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số A, rạch T, tổ F, khóm B, phường B, tỉnh An Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Ông Hoàng Đình K1, sinh năm 2004; nơi cư trú: Lô G, T, phường L, tỉnh An Giang;
- + Ông Phạm Kim N, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khóm N, phường L, tỉnh An Giang.
- + Bà Chu Nhật M, sinh năm 2001; nơi cư trú: Số C, khóm G, phường L, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng: Tạ Văn T, Nguyễn Thanh N1, Trần Thanh Ý;
(Bị hại, người liên quan, người làm chứng Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để liên lạc bán hàng online tại nhà (Thuộc số 126, rạch T, tổ F, khóm B, phường B, tỉnh An Giang), anh Lê Hoàng Thái B mua 19 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone các loại (Gồm: 02 Iphone 8 Plus, 03 Iphone X, 07 Iphone XS, 04 Iphone XS Max, 01 Iphone 11 Promax, 01 Iphone 12 Promax và 01 Iphone 13), giao cho các nhân viên hàng ngày ở nhà anh B sử dụng các điện thoại này bán hàng online trên mạng. Khoảng 21 giờ, ngày 14/9/2024, khi hết giờ làm nhân viên đi về nhà, để lại 19 điện thoại trên tại cửa hàng. Đến khoảng 07 giờ ngày 15/9/2024, anh B thấy cửa ra vào nhà bị cạy phá, qua kiểm tra phát hiện bị mất 19 điện thoại Iphone nêu trên, nên đến Công an phường B trình báo.
Sau khi tiếp nhận vụ việc, Cơ quan điều tra phối hợp với Công an phường B rà soát các địa điểm mua bán điện thoại di động trên địa bàn phường L, tỉnh An Giang đã xác định được Phạm Kim N mang nhiều điện thoại di động đến cửa hàng điện thoại “H” để bán. Qua làm việc, Nguyên khai nhận khoảng hơn 07 giờ ngày 15/9/2024, Tạ Văn T giới thiệu N gặp Cao Văn L đi cùng một người phụ nữ (Không rõ nhân thân). Lúc này, L lấy điện thoại trong túi đang đeo đưa cho N nhờ N đem bán dùm sẽ cho tiền hoa hồng, N kiểm tra thì có 16 điện thoại
3
Iphone các loại, không khóa màn hình, I nên đồng ý.
Việc Cao Văn L đột nhập vào nhà anh B lấy trộm 19 điện thoại, được hệ thống camera quan sát ghi nhận lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trích xuất thu giữ hình ảnh camera quan sát.
- * Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 10 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone các loại (Vật chứng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu gold gắn sim số 0969.752.411 và 8.800.000 đồng (Do Nguyên giao nộp); 01 bình nhựa trong suốt màu trắng, có nắp nhựa màu kem trên nắp nhựa có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu gù, bên trong đầu gù chứa tinh thể màu trắng; 01 laptop nhãn hiệu HP màu bạc và 01 dây sạc laptop màu đen (Qua khám xét tại nhà L).
- * Kết luận định giá tài sản số 2465/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L:
- - Đối với tài sản thu hồi được, tổng trị giá: 49.500.000 đồng (10 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone các loại).
- - Đối với tài sản chưa thu hồi được, tổng trị giá: 64.800.000 đồng (09 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone các loại).
Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKSKV9 ngày 19 tháng 8 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố Cao Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây được viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Cao Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ các điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Cao Văn L 04 (Bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 07/5/2025).
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý tang vật chứng, về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 06/10/2025, bị cáo Cao Văn L kháng cáo không thừa nhận hành vi phạm tội và yêu cầu Viện kiểm sát đưa ra hình ảnh về hành vi phạm tội của bị cáo, cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo 4 năm tù, bị cáo không chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L không thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, yêu cầu cho đối chất với N, yêu cầu cho thấy hình ảnh với hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo kêu oan cho rằng không phạm tội;
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử: Về thủ tục kháng cáo của bị cáo L hợp lệ, nên xem xét theo thủ tục phúc thẩm;
4
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết mới, để chứng minh cho rằng bị cáo không phạm tội; tuy nhiên dựa vào các tài liệu chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng có đủ căn cứ kết luận để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38 Bộ luật Hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn L; xử phạt bị cáo L 04 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; các phần còn lại giữ y án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có hành vi lấy trộm tài sản như Viện kiểm sát truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo L hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Tại phiên toà, qua phần xét hỏi và tranh luận bị cáo L không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định. Tuy nhiên, căn cứ các chứng cứ tài liệu, thu thập hợp pháp, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Cao Văn L đã có hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vào khoảng hơn 01 giờ ngày 15/9/2024, tại căn nhà của anh Lê Hoàng Thái B (Thuộc số 126, rạch T, khóm B, phường B, tỉnh An Giang), bị cáo L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản (19 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone các loại) của anh B. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt, trị giá 114.300.000 đồng;
Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo L đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội mới; cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy;
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo cũng hiểu rõ hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền
5
sở hữu của người khác; liên tục trong thời gian dài đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản của nhiều người, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang, bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều lần phạm tội “Trộm cắp tài sản”, trong đó có ít nhất 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới, nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; điều này, chứng tỏ bị cáo rất xem thường pháp luật, chưa thật sự ăn năn hối cải; cần có thời gian dài để cách ly bị cáo với xã hội, mới răn đe và phòng ngừa chung; cấp sơ thẩm áp dụng điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo 04 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và mang tính khoan hồng đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L được xem trực tiếp trích xuất camera và bản ảnh của Cơ quan cảnh sát điều tra và những hình ảnh xâm trên mu bàn tay của bị cáo; bị cáo không có tình tiết mới, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo cho rằng không có hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát, giữ y án sơ thẩm.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn L về việc không phạm tội.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
Căn cứ các điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Cao Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Cao Văn L 04 (bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/5/2025).
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Cao Văn L phải chịu: 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 179/2025/HS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 179/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản - Bị cáo Cao Văn L bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên 4 năm tù.
