|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 179/2025/HS-PT Ngày: 14/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Mai; |
| Các Thẩm phán: | Ông Thái Duy Nhiệm; |
| Ông Bùi Xuân Trọng. |
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1308/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT: Số E, L, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Thôn C, xã L, huyện G, thành phố Hà Nội; Chỗ ở khác: Thôn Y, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp trước khi khởi tố: Chuyên viên vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước; Là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 77-QĐ/UBKTUK ngày 27/12/2023 của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; Con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ; Có vợ là Nguyễn Thị Việt H và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 16/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V:
- Ông Nguyễn Quốc T1 - Luật sư Văn phòng luật sư Trần Thị H1 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Có mặt.
- Ông Phan Minh T2 - Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Có mặt.
- Luật sư Ngô Thị Thu H2, Trần Hồng P và Trần Thị Hồng N – Công ty luật TNHH Trần Vũ thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Đều có mặt.
Bị hại: Anh Trần Duy H3, sinh năm 1988; nơi cư trú: Căn hộ S, khu đô thị T, D M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Minh C, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên - Bộ C1 được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Thái Bình); Có mặt.
- Anh Dương Văn L, sinh năm 1982; nơi cư trú: P, tòa P, Khu đô thị T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Vũ Đăng P1, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Chấp hành án tại Trại giam T4 - Bộ C1 được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình); Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn V và Phạm Minh C quen biết nhau từ khoảng tháng 6/2020, Phạm Minh C có em đồng hao là Dương Văn L (vợ của C và vợ của L là hai chị em ruột), anh Dương Văn L và anh Trần Duy H3 là bạn. Anh H3 có em trai là Trần Duy D, sinh năm 1994, trú tại: Căn hộ S, khu đô thị T, D M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội và cháu vợ là Trương Đình L1, sinh năm 1993, trú tại: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y khởi tố, bắt tạm giam về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính, viễn thông” vào ngày 14/01/2021. Anh H3 muốn xin cho L1 và D được tại ngoại trước Tết Nguyên Đán năm 2021 nên nhờ anh L. Anh L nhờ Phạm Minh C do thấy C quen biết nhiều người. C gọi điện nhờ bị cáo V xin cho D và L1 được tại ngoại trước Tết. Do có mối quan hệ từ trước, nên bị cáo V đã gọi điện cho ông Đặng Xuân Q - Phó Giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y xin gặp bàn công việc, được ông Q đồng ý gặp. V gọi điện cho C nói đã nhờ được người giúp đỡ và bảo C chuẩn bị số tiền 01 tỷ đồng để cảm ơn, đưa trước cho V 700.000.000 đồng. C nói lại với anh L, anh L thông báo cho anh H3, anh H3 đồng ý. Vào buổi tối một ngày cuối tháng 01/2021, C và Vũ Đăng P1 (lái xe của C) điều khiển xe ô tô hiệu Tucson biển số 17A-134.78 (xe của C) chở C từ Thái Bình đến quán B, địa chỉ số D, đường M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội gặp anh H3 và anh L. Tại đây, anh H3 đưa cho C 01 túi nilon màu đen đựng số tiền 700.000.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). C gọi điện hẹn V rồi khoảng 22 giờ cùng ngày, P1 chở C và anh L đến khu vực trước cửa khách sạn B1, đường C, phường H, quận H gặp bị cáo V. C đưa túi nilon bên trong có 700.000.000 đồng cho V và nói nhờ anh giúp đỡ mấy đứa em, bị cáo V trả lời cứ yên tâm, về đi để anh lo, rồi bị cáo V cầm tiền và đi vào khách sạn, còn C, P1 và anh L đi về.
Khoảng 07 ngày sau, bị cáo V đi một mình đến trụ sở Công an tỉnh Y (Theo V khai có mang theo số tiền 500.000.000 đồng, mục đích để cảm ơn cán bộ Công an tỉnh Y). Bị cáo gặp ông Q tại phòng làm việc và đề nghị ông Q giúp đỡ cho D và L1 được tại ngoại. Ông Q không đồng ý với lời đề nghị của bị cáo V và nói vụ án đang được Phòng PC02 Công an tỉnh Y thụ lý điều tra, có đông bị can và phức tạp, nếu bị cáo V là người nhà thì liên hệ Phòng PC02 Công an tỉnh Y để được xem xét. Sau đó bị cáo V gặp ông Quách Minh Đ1 là Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Trưởng phòng PC02 Công an tỉnh Y, giới thiệu V là Chuyên viên Văn phòng Chủ tịch nước đặt vấn đề xin tại ngoại cho D và L1. Ông Đ1 từ chối nói đây là vụ án đang trong quá trình điều tra, phức tạp, cần phải mở rộng. Do ông Đ1, ông Q không nhận lời giúp nên V mang số tiền 500.000.000 đồng về, không đưa cho ai.
Khoảng tháng 3/2021, C gọi điện cho bị cáo V, đôn đốc việc xin tại ngoại cho D và L1. Mặc dù trước đó ông Đ1 và ông Q đã trả lời V là không đồng ý cho D và L1 tại ngoại nhưng bị cáo V vẫn bảo C chuyển tiếp 300.000.000 đồng để lo việc. C nghĩ có thể phát sinh thêm chi phí đi lại nên nói với anh L bảo anh H3 chuẩn bị 500.000.000 đồng. Ngày 24/3/2024, anh H3 nhờ anh L chuyển 500.000.000 đồng vào tài khoản của C. Sau khi nhận tiền, C rút 300.000.000 đồng rồi hẹn gặp bị cáo V để giao tiền. Ngày hôm sau, P1 điều khiển xe ô tô chở C đi từ Thái Bình đến đường H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội và dừng cách cổng vào Văn phòng Chủ tịch nước khoảng 100m. Bị cáo V đi bộ đến, vào trong xe ô tô nói chuyện với C, C đưa cho bị cáo V túi nilon đựng 300.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng) và nhờ bị cáo V giúp, bị cáo V bảo cứ yên tâm về đi. Sau khi nhận tiền, bị cáo V đã sử dụng chi tiêu cá nhân, không đưa cho ai để tác động, xin tại ngoại cho D và L1.
Ngày 24/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang Bảo lĩnh đối với Trần Duy D và Trương Đình L1; cùng ngày Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái có Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn đối với D và L1. Đầu tháng 6/2021, anh H3 cho rằng việc tại ngoại trên là do gia đình tự làm thủ tục bảo lĩnh, không phải do C xin giúp nên yêu cầu C trả tiền. C nhiều lần gọi điện, yêu cầu bị cáo V trả lại số tiền 01 tỷ đồng. Tháng 11/2021, bị cáo V chỉ trả cho C 700.000.000 đồng đã nhận lần thứ nhất, C đưa lại số tiền này cho anh L và anh L đã trả lại cho anh H3. Còn số tiền 300.000.000 đồng bị cáo V nhận của C lần thứ hai, bị cáo V không trả mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Ngày 26/11/2023, Phạm Minh C có đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt của bị cáo V. Ngày 01/12/2023, bị cáo V đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 300.000.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để khắc phục hậu quả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- 3. Về trách nhiệm dân sự: Chuyển số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) bị cáo đã tự nguyện nộp lại để trả cho bị hại anh Trần Duy H3. Số tiền này đang được quản lý tại Kho bạc Nhà nước tỉnh T theo Biên bản giao nhận tài sản số 10/2023/BBBG-CSĐTCATB-KBTB ngày 26/12/2023.
- 4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 năm 06 tháng (bảy năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/12/2023.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Z fold 4 của Nguyễn Văn V được niêm phong trong 01 phong bì giấy có in dấu của V1 Bộ C1.
(Vật chứng đang được quản lý tại Cục Thi hành án tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án lập ngày 21/8/2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn V có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục sơ thẩm vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn V giữ nguyên nội dung kháng cáo cho rằng sau khi nhận số tiền 300.000.000 đồng từ Phạm Minh C bị cáo đã đưa cho 02 đối tượng tại trụ sở Công an tỉnh Y xin thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Trần Duy D và Trần Đình L2 từ bị tạm giam sang được tại ngoại. Thực tế D và L2 sau đó đã được tại ngoại là nhờ sự tác động của bị cáo chứ bị cáo không lừa đảo lấy số tiền này của C. Cơ quan điều tra không làm rõ đối tượng đã nhận tiền của bị cáo đưa là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
Những người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá thấy rằng Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn V theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Tòa án sơ thẩm đã căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù là phù hợp.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V và Phạm Minh C còn khai: Trước ngày D và L2 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh, V đã gọi điện bảo C mang 200.000.000 đồng đến trụ sở Công an tỉnh Y để gặp, cảm ơn người giúp D, L2 được tại ngoại. Tại phiên tòa, Nguyễn Văn V khai đã dùng số tiền 300.000.000 đồng từ Phạm Minh C giao để đưa cho một người nam giới tại Phòng C2 - trụ sở Công an tỉnh Y. Tuy nhiên, những người tiến hành tố tụng trong vụ án xác định không nhận tiền hay tác động của ai để xin cho các bị can D, L2 được tại ngoại. Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng nhận tiền như bị cáo khai. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã báo cáo Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và xác định chưa có dấu hiệu của tội nhận hối lộ xảy ra trong hoạt động tư pháp nên không có cơ sở xem xét xử lý.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Kính mong HĐXX xem xét lại toàn bộ vụ án, trả hồ sơ để điều tra lại, xét xử đúng người, đúng tội vì bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như bản án sơ thẩm quy kết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, bản án sơ thẩm, kháng cáo của bị cáo, ý kiến của các luật sư; quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V thực hiện trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận khoảng giữa tháng 01/2021, Nguyễn Văn V - thời điểm này đang là Chuyên viên vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước - nhận lời Phạm Minh C nhờ giúp anh Trần Duy H3 xin cho các đối tượng Trần Duy D và Trần Đình L2 (là người nhà của anh Trần Duy H3) đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y khởi tố, bắt tạm giam ngày 14/01/2021 về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính, viễn thông” được tại ngoại trước Tết âm lịch năm 2021. Bị cáo V yêu cầu anh C đưa cho bị cáo 01 tỷ đồng. V đã nhận của C 700.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Văn V đã liên hệ với lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y xin thay đổi biện pháp ngăn chặn cho D và L2 từ tạm giam sang tại ngoại nhưng đều bị từ chối nên bị cáo đã trả lại cho C số tiền 700.000.000 đồng.
- [3] Hành vi đưa ra các thông tin sai sự thật để chiếm đoạt 300.000.000 đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Bộ luật Hình sự. Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn V theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
- [4] Khi lượng hình, Tòa án sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo rõ về hành vi nhận tiền, trả tiền, đã tự nguyện nộp lại 300.000.000 đồng trả lại bị hại để vận dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 năm 06 tháng tù là phù hợp.
- [5] Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo cung cấp bản sao Quyết định 315/QĐ-LĐTBXH ngày 20/4/2011 của Sở Lao động Thương binh & Xã hội tỉnh H về việc trợ cấp đối với ông Nguyễn Văn T (bố ruột bị cáo) là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và các tài liệu photo khác về thành tích của bị cáo trong quá trình công tác, bị cáo có em ruột là Nguyễn Thị H5 bị tâm thần phân liệt, chậm phát triển; gia đình có công cách mạng nhưng không có chứng thực. Tuy nhiên, bị cáo khẳng định không kháng cáo yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt mà kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục sơ thẩm vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
- [6] Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V và Phạm Minh C khai: Trước ngày D và L2 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh, V đã gọi điện bảo C mang 200.000.000 đồng đến trụ sở Phòng C2 Công an tỉnh Y để gặp, cảm ơn người giúp D, L2 được tại ngoại. C đã đến trụ sở Công an tỉnh Y đưa 200.000.000 đồng cho một người nam giới tại đầu hành lang tầng 3, trụ sở Phòng C2 theo lời Vương dặn. Tuy nhiên, C không biết người nhận tiền là ai, làm ở đâu và không nhớ được đặc điểm nhận dạng của người này. Tại phiên tòa, Nguyễn Văn V khai đã dùng số tiền 300.000.000 đồng từ Phạm Minh C giao để đưa cho một người nam giới tại Phòng C2 - trụ sở Công an tỉnh Y. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được đối tượng nhận tiền như bị cáo khai; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã báo cáo Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và xác định chưa có dấu hiệu của tội nhận hối lộ xảy ra trong hoạt động tư pháp nên không có cơ sở xem xét xử lý.
- [7] Đối với hành vi của anh Trần Duy H3, Dương Văn L và Phạm Minh C: Kết quả điều tra xác định anh H3 đã thông qua anh L và C liên hệ đưa cho bị cáo V số tiền 01 tỷ đồng để sử dụng vào việc chi phí đi lại, quan hệ ngoại giao. Anh H3, anh L và C không biết V đã gặp gỡ, đưa tiền cho ai. Trước khi hành vi của V bị phát hiện, C đã có đơn tố giác sự việc, đồng thời C cùng anh H3, anh L tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra khai nhận đầy đủ các nội dung liên quan đến vụ án. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh H3, anh L và C là phù hợp.
- [8] Đối với hành vi của bị cáo V nhận 700.000.000 đồng của anh H3 thông qua Phạm Minh C: Kết quả điều tra xác định: Sau khi V liên lạc được với ông Đặng Xuân Q để hẹn gặp, bị cáo mới yêu cầu C chuẩn bị tiền đưa cho bị cáo để sử dụng vào quan hệ ngoại giao. Khi nhận tiền, bị cáo đã trực tiếp đến gặp lãnh đạo Công an tỉnh Y để xin cho D và L2 được tại ngoại nhưng không xin được. Đến tháng 11/2021, bị cáo đã trả lại cho C 700.000.000 đồng để C trả anh H3 số tiền trên. Vì vậy, không có căn cứ xác định bị cáo có mục đích chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng của anh H3. Cơ quan tiến hành tố tụng không xử lý là đúng quy định.
- [9] Từ những phân tích nêu trên cho thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục sơ thẩm vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [10] Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Bị cáo thừa nhận sau đó, vào tháng 3/2021 bị cáo có nhận từ Phạm Minh C số tiền 300.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã đưa cho 02 đối tượng tại trụ sở Công an tỉnh Y xin thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Trần Duy D và Trần Đình L2 từ bị tạm giam sang được tại ngoại. Thực tế D và L2 sau đó đã được tại ngoại là nhờ sự tác động của bị cáo. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nội dung này trong lời khai của bị cáo nhưng không xác định được đối tượng nhận tiền như bị cáo khai; những người tiến hành tố tụng trong vụ án D và L2 xác định không nhận tiền hay tác động của ai để cho các bị can D, L2 được tại ngoại.
Do đó, Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, gồm: Lời khai của bị hại anh Trần Duy H3 (bút lục 313 - 315); Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Minh C (bút lục 292 - 312; 370 - 385); Lời khai của người làm chứng anh Dương Văn L (bút lục 370 - 385), Vũ Đăng P1 (bút lục 462 - 468); Biên bản kiểm tra, xem thông tin trong điện thoại di động của Nguyễn Văn V (bút lục 689 - 690); Sao kê giao dịch tài khoản ngân hàng của Trần Duy H3, Dương Văn L, Phạm Minh C (bút lục 330 - 367, 388 - 482, 623 - 640); Đơn tự nguyện nộp lại số tiền 300.000.000 đồng của Nguyễn Văn V và Biên bản quản lý, niêm phong (bút lục 686 - 688); Biên bản làm việc ngày 06, 07/12/2023 tại Công an tỉnh Y đối với ông Đặng Xuân Q - Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phó Giám đốc Công an tỉnh Y và ông Quách Minh Đ1 - Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phó Giám đốc Công an tỉnh Y (bút lục 480 - 483); Biên bản xác minh, xác định địa điểm giao nhận tiền: quán B, khách sạn B1; quán C3 và nhà khách H6 (bút lục 469 - 478); Biên bản ghi lời khai của Trần Duy D, Trần Đình L2, chị Đỗ Thị T3 (vợ L2), bà Lê Thị H4, ông Trần Sỹ Đ2 (bố mẹ của Trần Duy D) (bút lục 437 - 459) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù biết những người mình nhờ xin thay đổi biện pháp ngăn chặn cho D và L2 từ tạm giam sang tại ngoại đều từ chối không giúp nhưng đến tháng 3/2021, bị cáo V đã lợi dụng lòng tin của bị hại, nói dối là để tác động, xin tại ngoại cho D và L2 và yêu cầu C đưa tiếp số tiền 300.000.000 đồng nhằm chiếm đoạt. Sau khi nhận số tiền này, bị cáo V sử dụng để chi tiêu cá nhân mà không đưa cho ai khác để tác động, xin tại ngoại cho D và L2.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình như sau:
- 1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- 1.2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- 1.3. Về trách nhiệm dân sự: Chuyển số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) bị cáo đã tự nguyện nộp lại để trả cho bị hại anh Trần Duy H3. Số tiền này đang được quản lý tại Kho bạc Nhà nước tỉnh T theo Biên bản giao nhận tài sản số 10/2023/BBBG-CSĐTCATB-KBTB ngày 26/12/2023.
- 1.4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- 1.5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- 2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 năm 06 tháng (Bảy năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/12/2023.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Z fold 4 của Nguyễn Văn V được niêm phong trong 01 phong bì giấy có in dấu của V1 Bộ C1.
(Vật chứng đang được quản lý tại Cục Thi hành án tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án lập ngày 21/8/2024).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mai |
Bản án số 179/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 179/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V
