|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 179/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 11 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Vui, bà Nguyễn Thị Thuý Mùi.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.
Ngày 19/11/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc A, sinh năm 2000; Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, tỉnh Ninh Bình
Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa: Có mặt chị Ngọc A, vắng mặt anh T (anh T có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc A trình bày:
Trên cơ sở tự nguyện chị kết hôn với anh Bùi Văn T vào ngày 09/4/2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã Đ, tỉnh Ninh Bình). Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Hiện hai anh chị đang sống ly thân nhau. Chị xác định tình cảm giữa chị và anh T không còn nên đề nghị Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình giải quyết ly hôn với anh Bùi Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Trung H, sinh ngày 22/08/2019, hiện nay cháu đang ở cùng anh T. Sau khi ly hôn chị Ngọc A đề nghị để anh T nuôi cháu H và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng) kể từ khi ly hôn cho tới khi cháu thành niên 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai nộp cho Toà án bị đơn anh Bùi Văn T trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn anh đồng ý với quan điểm của chị Ngọc A. Về tình cảm anh cũng xác định giữa anh và chị Ngọc A có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng ly thân từ 2022 đến nay. Nay anh xác định tình cảm không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị Ngọc A.
Về con chung: Anh nhất trí nhận nuôi cháu Bùi Trung H, sinh ngày 22/08/2019 và đồng ý với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) một tháng cho đến khi cháu 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh T vắng mặt (anh T có ý kiến xin giải quyết vắng mặt và đề nghị không hoà giải) nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa:
Chị Ngọc A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị xác định hiện nay anh T có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Bùi Trung H.
Anh T xin giải quyết vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn xin vắng mặt, bản tự khai của anh T. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
Về việc vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án anh T đề nghị xin vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị Ngọc A và anh Bùi Văn T là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên không tìm được tiếng nói chung, anh chị hay xảy ra va chạm dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc và hiện tại đang sống ly thân nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Ngọc A và anh T đã trầm trọng, hiện tại đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Ngọc A xin ly hôn anh T và anh T cũng nhất trí thuận tình ly hôn. Thấy việc thuận tình ly hôn của chị Ngọc A và anh T là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Chị Ngọc A và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Trung H, sinh ngày 22/8/2019, hiện nay cháu đang ở cùng anh T. Sau khi ly hôn chị Ngọc A đề nghị để anh T tiếp tục nuôi cháu H và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng cho tới khi cháu 18 tuổi, phía bị đơn cũng nhất trí nhận nuôi cháu H và đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn đưa ra. Hội đồng xét xử xét thấy sự thoả thuận của các đương sự là phù hợp, không trái pháp luật không trái đạo đức xã hội, anh T hiện có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, nên giao cháu H cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ngọc A phải cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng kể từ khi ly hôn cho tới khi cháu 18 tuổi là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Không ai có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải nộp án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Ngọc A và anh Bùi Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là Bùi Trung H, sinh ngày 22/8/2019 cho anh Bùi Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trần Thị Ngọc A phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Bùi Trrung H1 mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho tới khi cháu Bùi Trung H thành niên đủ 18 tuổi và tự lập được.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí:
Án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Trần Thị Ngọc A phải nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, đối trừ với số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001655 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, chị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm ly hôn.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Ngọc A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Trần Thị Ngọc A được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Anh |
Bản án số 179/2025/HNGĐ-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về con chung
- Số bản án: 179/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn giữa chị Trần Thị Ngọc A và anh Bùi Văn T
