|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 179/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2025
Về việc: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hồng;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Hải Vân;
- Ông Trần Anh Dũng.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Quang Hòa- Thư ký TAND thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Hoàng Vĩnh Thảo- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 167/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2024 về việc: “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64 2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/QĐ-HPT ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Văn C, sinh ngày 25/10/1977; (Vắng mặt)
- HKTT: Tổ dân phố số C, phường C, quận N, thành phố Hà Nội; Hiện ở: Đài Loan.
- Hộ chiếu số C8970524 do Cục Q cấp ngày 04/3/2020.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Công ty L và cộng sự. Cử bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; HKTT: Thôn H, xã Y, huyện T, tỉnh Yên Bái- đại diện (Có mặt)
- - Bị đơn: Bà Đào Thị D, sinh ngày 24/09/ 1978 (vắng mặt)
- HKTT: Tổ dân phố số C, phường C, quận N, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 16/4/2024 và bản tự khai của nguyên đơn ông Lê Văn C trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn C và bà Đào Thị D đăng ký kết hôn ngày 14/12/1998 tại UBND xã Đ, huyện C tỉnh Hưng Yên trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được vài năm đầu, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điềm sống, tính cách hai vợ chồng không thể hòa hợp. Đến năm 2020, vì điều kiện kinh tế ông C phải đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, các mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng hơn, không có cách nào để khắc phục. Vợ chồng cũng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau từ đó đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn ông C đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà D.
- - Về con chung: Ông bà có hai con chung, con lớn là anh Lê Tiến A, sinh năm 1999, con thứ hai là Lê Thị Mai A1, sinh ngày 28/8/2007. Anh Tiến A đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Cháu Mai A1 còn nhỏ hiện đang ở với mẹ. Ly hôn, ông C đề nghị giao cháu Mai A1 cho mẹ là Đào Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo cuộc sống không bị xáo trộn. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: không có.
Do hiện tại ông C chưa về được Việt Nam nên ông C xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và phiên xét xử của Tòa án. Ông C ủy quyền cho chị Nguyễn Thị M nộp và nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án.
Bị đơn bà Đào Thị D có địa chỉ hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố số C, phường C, quận N, thành phố Hà Nội.Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần thông qua gia đình là con trai của bà D và ông C là anh Lê Tiến A nhưng bà D không đến tòa án để trình bày ý kiến. Tòa án đã tiến hành lập biên bản xác minh tại nơi cư trú của bị đơn được các đồng chí cán bộ địa phương cho biết: Trước đây ông Lê Văn C và bà Đào Thị D có cùng nhau chung sống tại Tổ dân phố số C, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. Hiện nay bà D đã đi khỏi địa chỉ này, hiện bà D ở đâu bà D không thông báo nên địa phương không nắm được.
Anh Lê Tiến A là con đẻ của ông C bà D có ý kiến: Bố mẹ tôi là ông C và bà D có kết hôn và chung sống cùng nhau tại: Tổ dân phố số C, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống bố mẹ tôi có mâu thuẫn khoảng 8 năm trở lại đây, lý do mâu thuẫn xuất phát từ kinh tế. Đến năm 2020 bố tôi đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó hai người không còn yêu thương quan tâm đến nhau nữa. Nay bố tôi làm đơn ly hôn, do hai người đã không còn tiếng nói chung nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho bố mẹ tôi. Về con chung: Bố mẹ tôi có hai con chung là tôi Lê Tiến A và Lê Thị Mai A1, sinh năm 2007. Hiện tại tôi đã trưởng thành và có gia đình riêng còn em Mai A1 đang được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng tại nhà bạn của mẹ anh. Do mẹ anh mâu thuẫn với bố nên không muốn cung cấp địa chỉ ở hiện tại cho Tòa án để làm thủ tục ly hôn.
Về tài sản chung và nợ chung của bố mẹ anh: Không có
Anh Lê Tiến A đồng ý và cam kết nhận và giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà D.
Tòa án đã tiến hành làm thủ tục thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp công khai chứng cứ, phiên tòa theo quy định tại các Điều 196, 208, 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã hoãn phiên họp 2 lần và mở lại phiên tòa 2 lần nhưng đến nay bà D vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện theo ủy quyền của ông C đồng ý nhận và cam kết sẽ giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông C và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho ông Lê Văn C được ly hôn với bà Đào Thị D cùng các nội dung khác như đã trình bày theo đơn khởi kiện. Riêng về việc cấp dưỡng nuôi con, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã trao đổi và thống nhất với nguyên đơn: Đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của ông C cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Mai A1 với mức 3.000.000 VNĐ/ tháng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.
Đại diện VKSND thành phố Hà Nội tham gia tại phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và việc tuân theo pháp luật của các đương sự, đồng thời đề xuất hướng giải quyết vụ án như sau:
Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo của Tòa án cho các đương sự, tiến hành các bước tố tụng đúng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông C được ly hôn với bà D. Về con chung: Ông bà có hai con chung, con lớn là anh Lê Tiến A, sinh năm 1999, con thứ hai là Lê Thị Mai A1, sinh ngày 28/8/2007. Anh Tiến A đã trưởng thành, Tòa án không xem xét giải quyết. Giao cháu Lê Thị Mai A1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông C cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Ông C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Ông Lê Văn C có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà Đào Thị D, bà D có địa chỉ nơi cư trú tại thành phố Hà Nội. Ông C có địa chỉ nơi cư trú tại Đài Loan. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Đào Thị D đã được triệu tập hợp lệ hai lần đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 227 BLTTDS Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[2].Về nội dung:
Về tình cảm: Ông Lê Văn C và bà Đào Thị D đăng ký kết hôn ngày 14/12/1998 tại UBND xã Đ, huyện C tỉnh Hưng Yên trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được vài năm đầu, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điềm sống, tính cách hai vợ chồng không thể hòa hợp. Đến năm 2020, vì điều kiện kinh tế ông C phải đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về Việt Nam, mâu thuẫn vợ chồng không được khắc phục. Vợ chồng cũng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau từ đó đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn ông C đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà D. Bà D đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ đến Tòa án nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông C gửi cho Tòa án.
Qua xác minh tại địa phương, cũng như việc lấy ý kiến của gia đình là anh Lê Tiến A là con đẻ của ông C bà D thể hiện: Ông C và bà D có kết hôn và chung sống cùng nhau tại: Tổ dân phố số C, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống ông bà có mâu thuẫn khoảng 8 năm trở lại đây, lý do mâu thuẫn xuất phát từ kinh tế. Đến năm 2020 ông C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó hai người không còn yêu thương quan tâm đến nhau nữa. Nay ông C làm đơn ly hôn, do hai người đã không còn tiếng nói chung nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho ông C và bà D.
Hội đồng xét xử xét: Thực tế hôn nhân giữa ông C và bà D không tồn tại trong nhiều năm, vợ chồng không cùng chung sống và không còn yêu thương quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của ông C là có căn cứ nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho ông C được ly hôn với bà D.
- -Về con chung: Ông bà có hai con chung, con lớn là anh Lê Tiến A, sinh năm 1999, con thứ hai là Lê Thị Mai A1, sinh ngày 28/8/2007. Anh Tiến A đã trưởng thành Tòa án không xem xét giải quyết. Cháu Mai A1 hiện đang do bà D trực tiếp nuôi dưỡng và cháu cũng có ý kiến nguyện vọng được ở với mẹ. Ly hôn, ông C đề nghị giao cháu Mai A1 cho mẹ là Đào Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo cuộc sống của cháu không bị xáo trộn, phù hợp với hoàn cảnh thực tế, nên yêu cầu về người trực tiếp nuôi con của ông C được chấp nhận. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông C cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000 đồng/ tháng.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Ông C trình bày vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Bà D cũng không có ý kiến gì nên Tòa không xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự vụ án chia tài sản chung sau ly hôn bằng vụ án khác khi có căn cứ và có yêu cầu.
- Về án phí : Ông C phải chịu 300.000 án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 37; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và danh mục án phí, lệ phí;
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Văn C đối với bà Đào Thị D. Ông Lê Văn C được chấm dứt quan hệ hôn nhân với bà Đào Thị D.
- - Về con chung: Ông bà có hai con chung, con lớn là anh Lê Tiến A, sinh năm 1999, con thứ hai là Lê Thị Mai A1, sinh ngày 28/8/2007. Anh Tiến A đã trưởng thành Tòa án không xem xét giải quyết. Giao cháu Mai A1 cho bà Đào Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông C cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/ tháng kể từ tháng 06/2025 đến khi cháu tròn 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Ông C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Ông C trình bày vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Bà D cũng không có ý kiến gì nên Tòa không xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự vụ án chia tài sản chung sau ly hôn bằng vụ án khác khi có căn cứ và có yêu cầu.
- - Về án phí: Nguyên đơn ông C phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, đã nộp theo biên lai số 0023401 ngày 18/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Nay chuyển thành án phí, ông C đã nộp đủ.
Án xử công khai sơ thẩm, ông C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Bà D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hồng |
6
7
Bản án số 179/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 179/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về việc ly hôn giữa Lê Văn C - Đào Thị D
