|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:179/2024/HS-ST
Ngày 11-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Ông Vũ Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Nhã - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Công T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1988 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 1 T, phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà không số, tổ A (kế D), ấp D, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công B và bà Diệp M; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân Thân:
Ngày 31/8/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo Bản án số 159/2006/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2008.
Ngày 09/4/2009, bị UBND Thành phố H ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 863/QĐ-UBND. Chấp hành xong ngày 08/12/2012.
Ngày 18/9/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cại nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 340/2015/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 02/7/2017.
Ngày 08/01/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc P trong thời hạn 17 tháng theo Quyết định số 32/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 10/4/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 22/11/2023, Công an xã Đ, huyện B phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B tiến hành kiểm tra cư trú tại địa chỉ nhà không số thuộc Tổ A, Ấp D, xã Đ, huyện B. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong túi quần bên phải, phía trước của Huỳnh Công T đang mặc có 01 gói thuốc hiệu HB bên trong có 04 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 bịch nylon bên trong có chứa tờ tiền mệnh giá 500 đồng bên trong chứa tinh thể màu trắng mà T khai nhận là ma túy cùng các dụng cụ sử dụng ma túy của T cất giữ với mục đích sử dụng nên Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc. Kết quả xét nghiệm Huỳnh Công T dương tính với ma túy: Methamphetamine và M1 (BL 34-45).
Căn cứ kết luật giám định số 13183/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m₁ cần giám định ( đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2954g ( không phẩy hai chín năm bốn gam), loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8607g (không phẩy tám sáu không bảy gam), loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0178g (không phẩy không một bảy tám gam), loại Ketamine.
Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm:
- Bột màu trắng (m1) có khối lượng 0,2411 gam.
- L thê không màu (m2) có tổng khối lượng 0,7936 gam.
- M3 đã sử dụng hết mẫu" (BL 28-29).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Huỳnh Công T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 20/11/2023, T điều khiển xe mô tô Dream (không rõ biển số) mượn của một bạn tên M2 (không rõ lai lịch) đến một con hẻm trên đường B thuộc Phường A, Quận H mua 02 gói ma túy (01 gói ma túy đá và 01 gói H) với giá 200.000 đồng của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch). Sau đó, T cất số ma túy trên vào túi quần đang mặc và đem về sử dụng hết một gói ma túy Heroine. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T tiếp tục đến khu vực trên mua 100.000 đồng ma túy đá của một người không rõ lai lịch và cất giấu vào túi quần để sử dụng. Khoảng 09 giờ ngày 21/11/2023, T tiếp tục đến khu vực B thuộc Phường A, Quận H mua 02 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch) và T cất giấu ma túy trên vào túi quần rồi đi về nhà. Đến 15 giờ cùng ngày, T tiếp tục đến khu vực trên mua 100.000 đồng ma túy Heroine của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) rồi cất giấu ma túy vào túi quần để sử dụng. Đến 11 giờ ngày 22/11/2023, khi T đang nằm ngủ ở nhà tại địa chỉ nhà không số thuộc Tổ A, Ấp D, xã Đ, huyện B thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ số ma túy trên trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc. Mục đích T cất giấu số ma túy trên là để sử dụng cho bản thân (BL 58-68).
* Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng.
- 04 gói nylon chứa tinh thể không màu.
- 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
- 01 bịch nylon trong suốt.
- 03 đầu ông hút được cắt nhọn một đầu.
- 10 cây kim tiêm có nắp màu đỏ.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A màu xanh. cùng 01 sim có số thuê bao 0362733061.
Tất cả các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyến đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ chờ xử lý.
Cáo trạng số 159/CT-VKSBC ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Huỳnh Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù.
Về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 22/11/2023, Công an xã Đ, huyện B phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B tiến hành kiểm tra cư trú tại địa chỉ nhà không số thuộc Tổ A, Ấp D, xã Đ, huyện B. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong túi quần bên phải, phía trước của Huỳnh Công T đang mặc có 01 gói thuốc hiệu HB bên trong có 04 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 bịch nylon bên trong có chứa tờ tiền mệnh giá 500 đồng bên trong chứa tinh thể màu trắng mà T khai nhận là ma túy cùng các dụng cụ sử dụng ma túy của T cất giữ với mục đích sử dụng.
Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Huỳnh Công T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu:
Ngày 31/8/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo Bản án số 159/2006/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2008;
Ngày 09/4/2009, bị UBND Thành phố H ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 863/QĐ-UBND. Chấp hành xong ngày 08/12/2012;
Ngày 18/9/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cại nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 340/2015/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 02/7/2017;
Ngày 08/01/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc P trong thời hạn 17 tháng theo Quyết định số 32/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 10/4/2021.
Đây là tình tiết mà Hội đồng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho T tại khu vực B thuộc phường A, Quận H, Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
[6] Về vật chứng:
- 01 gói nylon niêm phong bên ngoài có chữ ký của Huỳnh Công T, điều tra viên, người chứng kiến và hình dấu của Công an xã Đ; bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 bịch nylon trong suốt; 03 đầu ông hút được cắt nhọn một đầu; 10 cây kim tiêm có nắp màu đỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.Các vật này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng. Đây công cụ phương tiện phạm tội tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A màu xanh. cùng 01 sim có số thuê bao 0362733061. Đây là tài sản riêng của bị cáo Huỳnh Công T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2023.
* Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói nylon niêm phong bên ngoài có chữ ký của Huỳnh Công T, điều tra viên, người chứng kiến và hình dấu của Công an xã Đ; bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định.
- 01 bịch nylon trong suốt; 03 đầu ông hút được cắt nhọn một đầu; 10 cây kim tiêm có nắp màu đỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng.
Trả lại cho bị cáo Huỳnh Công T: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A màu xanh cùng 01 sim có số thuê bao 0362733061.
(Các vật chứng trên đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/5/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
* Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 179/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
