|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 179/2024/HSPT Ngày 26 - 04 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Kiều Lương |
| Các thẩm phán: | Bà Hà Thị Thanh Nữ |
| Bà Lê Thị Ký |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 540/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Trần Danh A cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 439/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXX-PTHS ngày 21/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số:106/2024/HDPT-QĐ ngày 12/4/2024.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Hoàng Đức A1, sinh năm 1990 (tên gọi khác: Không), tại Bắc Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện nay: Thuê trọ tại số nhà A, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1962 và con bà Ngô Thị H, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Trần Danh A, sinh năm 1989 (tên gọi khác: Không), tại Hà Tĩnh.
Nơi đăng ký thường trú: Số D, khu phố B, đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ở hiện nay: số A, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Danh H1, sinh năm 1958 và con bà Dương Thị X, sinh năm 1963; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ Trần Thị Thu H2 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2021 nhỏ nhất sinh năm 2023).
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Trần Duy N, sinh năm 1990 (tên gọi khác: Không), tại Tây Ninh;
Nơi đăng ký thường trú: A778, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Như trên; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H3, sinh năm 1962 và con bà Phạm Thị C, sinh năm 1967; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ Vũ Thị Kiều T2, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án có bị hại nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- 1. Nội dung chính của vụ án: Các bị cáo Trần Danh A, Hoàng Đức A1 và Trần Duy N có quan hệ quen biết nhau. Bị cáo N là anh vợ của bị cáo Danh A còn bị cáo Đức A1 là em họ bên vợ của bị cáo Danh A.
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/11/2021, anh Nguyễn Minh T3, sinh năm 1999, ĐKTT: ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, đến phòng trọ của cha ruột là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970 thuộc tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai uống rượu cùng với ông S, anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1983 (cậu của anh T3) và một người tên T5 (chưa rõ lai lịch). Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày tất cả uống rượu xong, anh T4, T5 đi về nhà trước. Sau đó, anh T3 có ý định lấy chiếc loa kẹo kéo tại phòng trọ ông S để mang về sử dụng nhưng ông T3 và bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1975 (mẹ của anh T3) thấy T3 đã uống rượu nên không đồng ý và khuyên anh T3 đi về nhà nghỉ. Sau đó, bà D dùng tay đẩy anh T3 ra đến đầu dãy phòng trọ thì bà D tự trượt ngã bị cây sắt (có sẵn dưới đất) đâm trúng chân rách da, được mọi người chở đi khâu vết thương. Trong lúc bà D đi khâu vết thương thì anh T3 và ông S cãi nhau.
Lúc này, bị cáo Danh A (nhà gần dãy trọ ông S, cách khoảng 05m), bị cáo N (thuê trọ gần dãy trọ ông S) và bị cáo Đức A1 (đang chơi tại nhà của Danh A) nghe thấy ồn ào nên đi bộ sang phòng trọ ông S để tìm hiểu. Thấy anh T3 lớn tiếng cãi nhau với ông S nên bị cáo Danh A chửi T3 về việc anh T3 gây ồn tại dãy trọ và đuổi anh T3 đi về. Anh T3 nói lại “em có làm gì đâu mà anh chửi”, sau đó giữa bị cáo Danh A và anh T3 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Tức giận, bị cáo Danh A xông vào dùng tay đấm nhiều cái vào mặt, dùng chân đá vào người của anh T3, anh T3 giơ hai tay lên đỡ. Cùng lúc này, bị cáo N cũng xông vào dùng tay chân đấm, đá nhiều cái trúng ngực, người anh T3. Trong lúc bị cáo Danh A và bị cáo N đang đánh anh T3 thì bị cáo Đức A1 nhặt 01 viên gạch loại 02 lỗ, kích thước 18cm x 08cm x 04cm ở dưới đất (gần hiện trường), xông vào đánh 01 cái trúng vào trán trái của anh T3 gây thương tích chảy máu. Thấy anh T3 bị đánh, ông S chạy lại dùng hai tay kéo bị cáo Danh A và bị cáo Đức A1 ra để can ngăn. Bị cáo Danh A và bị cáo N quay sang dùng tay, chân đấm, đá nhiều cái trúng vào mặt, bụng ông S. Bị cáo Đức A1 cầm viên gạch nêu trên tiếp tục xông vào đánh 01 cái trúng vào trán và mắt trái của ông S gây thương tích chảy máu. Anh T3 và ông S bị choáng nằm xuống đường. Cùng lúc này, anh T4 chạy đến can ngăn thì bị cáo N xông lại dùng tay đấm trúng ngón 3 bàn tay phải gây thương tích. Sau đó, bị cáo Đức A1 vứt viên gạch tại hiện trường và cùng với các bị cáo Danh A và N bỏ đi. Ông S, anh T3 và anh T4 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu và điều trị.
- 2. Giám định - Kết luận giám định:
- 2.1. Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0218/TgT/2022 ngày 18/4/2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận ông Nguyễn Văn S bị thương tích như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo trán trái kích thước 02x0,3cm.
- Sẹo mi dưới mắt trái kích thước 3,3x0,2cm.
- Tổn thương gãy mảnh sàng và gãy sụp sàng hốc mắt trái không ảnh hưởng thị lực.
- Tổn thương liệt thần kinh số IV (liệt vận nhãn ngoài mắt trái).
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn S áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 16%. (Mười sáu phần trăm).
Vật gây thương tích: Vật tày.
- 2.2. Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0063/TgT/2022 ngày 21/01/2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận anh Nguyễn Minh T3 bị thương tích như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo trán trái ngoài chân tóc kích thước 3,5x0,3cm.
- Sẹo trán trái ngoài chân tóc kích thước 2,5cmx0,3cm.
- Sẹo trán trái kích kích thước 02x0,3cm.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Minh T3 áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 09%.(Chín phần trăm).
Vật gây thương tích: Thương tích trán do vật tày có cạnh.
- 2.3. Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0061/TgT/2022 ngày 24/01/2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận anh Nguyễn Ngọc T4 bị thương tích như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo ngón 3 bàn tay phải kích thước 1,2x0,2cm.
- Gãy đốt 2 ngón 3 bàn tay phải.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Ngọc T4 áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 02%.(Hai phần trăm)
Vật gây thương tích: Vật tày.
- 2.1. Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0218/TgT/2022 ngày 18/4/2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận ông Nguyễn Văn S bị thương tích như sau:
- 3. Vật chứng vụ án:
- 01 viên gạch loại 02 lỗ, kích thước 18cm x 08cm x 04cm có dính vết máu màu đỏ (nghi máu) do bị cáo dùng để đánh ông S và anh T3 gây thương tích.
- 4. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã liên đới bồi thường chi phí điều trị thương tích và các yêu cầu khác cho ông Nguyễn Văn S số tiền 110.000.000₫ (Một trăm mười triệu đồng), anh Nguyễn Minh T3 số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng), và anh Nguyễn Ngọc T4 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Các bị hại đã bãi nại cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- 5. Quyết định của cấp sơ thẩm: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 439/2023/HS-TS ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức A1: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017); áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N.
- Xử phạt bị cáo Trần Danh A: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Duy N: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
- 6. Kháng cáo - Kháng nghị: Ngày 05/9/2023 và 12/9/2023, các bị cáo Trần Danh A, Trần Duy N và Trần Đức A2 có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
- 7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Hoàng Đức A1, Trần Danh A mỗi bị cáo 02 (hai); xử phạt bị cáo Trần Duy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo; Xét thấy trong vụ án trên, bị cáo Hoàng Đức A1 thực hiện hành vi phạm tội với tính chất côn đồ, bản thân bị cáo là người dung hung khí nguy hiểm là viên gạch 02 lỗ trực tiếp gây thương tích cho các bị hại trong khi đó bản thân bị cáo và những người bị hại không có mâu thuẫn gì trước đó. Trong quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo không có mặt, bị cáo kháng cáo mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các quyết định của Tòa nhưng bị cáo không có mặt và cũng không cung cấp được chứng cứ gì mới. mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo như trên là phù hợp không năng, Do đo, đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Trần Danh A và Trần Duy N, xuất phát từ việc can ngăn giữa các bị hại nên xảy ra mâu thuẫn, thương tích của người bị hại không phải do các bị cáo gây ra, sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã bồi thường cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại, quá trình chuẩn bị xét xử các bị cáo cung cấp xác nhận của địa phương có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ là lao động chính trong gia đình, chưa có tiền án, tiền sự có ông nội là liệt sỹ (bị cáo Danh A và N là anh em. Xét cả hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới ở khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo chuyển hình phạt tù của hai bị cáo Trần Danh A và Trần Duy N sang hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo phải chấp hành, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bị cáo Hoàng Đức A1 là người kháng cáo, trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã tống đạt cho bị cáo quyết định xét xử theo quy định, tuy nhiên bị cáo không đến tham gia phiên tòa. Xét sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử căn cứ Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị cáo Hoàng Đức A1.
- [2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã có đủ cơ sở kết luận, khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 13/11/2021, tại trước dãy nhà trọ thuộc tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Trần Danh A, Hoàng Đức A1 và Trần Duy N đã có hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Văn S với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%, gây thương tích cho anh Nguyễn Minh T3 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 09% và gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc T4 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 02%. Trong đó, các bị cáo Danh A, Duy N trực tiếp dùng tay, chân đấm đá vào người ông S và anh T3, còn bị cáo Đức A1 trực tiếp dùng viên gạch loại 02 lỗ có kích thước 18cm x 08cm x04cm đánh trúng vào trán anh T3 và tiếp tục đánh vào trán và mắt trái của ông S. Anh T4 đến can ngăn thì bị bị cáo Duy N dùng tay đấm trúng ngón 3 bàn tay phải gây thương tích.
Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”. Theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
- [3] Xét nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy; Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống giữa các bị hại với nhau, bị cáo Danh A thấy vậy đến can ngăn nên giữa bị cáo Danh A và anh T3 (bị hại) xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, bị cáo Danh A và Duy N dùng tay đánh vào người bị hại. Trong khi đó bị cáo Đức A1 không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng đã dùng viên gạch loại 02 lỗ, kích thước 18cm x 08cm x 04cm ở dưới đất (gần hiện trường), vô cớ xông vào đánh 01 cái trúng vào trán trái của anh T3 tiếp tục xông vào đánh 01 cái trúng vào trán và mắt trái của ông S gây thương tích. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đức A2 02 (hai) năm tù, xử phạt bị cáo Trần Danh A 02 (hai) năm tù và xử phạt bị cáo Trần Duy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo đồng thời bị cáo Danh A và bị cáo N cung cấp chứng cứ mới như đơn xác nhận của địa phương thể hiện các bị cáo luôn chấp hành nghiêm chỉnh chính sách pháp luật, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc thành phần lao động có ông nội là liệt sỹ (bị cáo Danh A và N là anh em họ), đều là lao động chính trong gia đình, bị hại bãi nại cho các bị cáo. Xét cả hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới ở khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ theo nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo chuyển hình phạt tù của hai bị cáo Trần Danh A và Trần Duy N sang hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo phải chấp hành, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Đối với bị cáo Đức A2 trong quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo không có mặt, nhưng bị cáo có kháng cáo, quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo cũng vắng mặt và không cung cấp được tình tiết nào mới để xem xét. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo tại bản án sơ thẩm.
- [4] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
- [5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Trần Danh A và Trần Duy N được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kháng cáo của bị cáo Hoàng Đức A1 không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hoàng Đức A1.
- Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Trần Danh A và Trần Duy N. Sửa Bản án sơ thẩm số 439/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Căn cứ căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức A1: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017) áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N.
- Xử phạt bị cáo Trần Danh A: 02 (Hai) năm tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Xử phạt bị cáo Trần Duy N: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Danh A và Trần Duy N cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Bị cáo Trần Danh A và bị cáo Trần Duy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Hoàng Đức A1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự phúc thẩm
- Vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Hiệu lực của Bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hà Thị Thanh Nữ |
Lê Thị Ký |
Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 179/2024/HSPT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 179/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/11/2021, anh Nguyễn Minh T3, sinh năm 1999, ĐKTT: ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, đến phòng trọ của cha ruột là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970 thuộc tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai uống rượu cùng với ông S, anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1983 (cậu của anh T3) và một người tên T5 (chưa rõ lai lịch). Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày tất cả uống rượu xong, anh T4, T5 đi về nhà trước. Sau đó, anh T3 có ý định lấy chiếc loa kẹo kéo tại phòng trọ ông S để mang về sử dụng nhưng ông T3 và bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1975 (mẹ của anh T3) thấy T3 đã uống rượu nên không đồng ý và khuyên anh T3 đi về nhà nghỉ. Sau đó, bà D dùng tay đẩy anh T3 ra đến đầu dãy phòng trọ thì bà D tự trượt ngã bị cây sắt (có sẵn dưới đất) đâm trúng chân rách da, được mọi người chở đi khâu vết thương. Trong lúc bà D đi khâu vết thương thì anh T3 và ông S cãi nhau. Lúc này, bị cáo Danh A (nhà gần dãy trọ ông S, cách khoảng 05m), bị cáo N (thuê trọ gần dãy trọ ông S) và bị cáo Đức A1 (đang chơi tại nhà của Danh A) nghe thấy ồn ào nên đi bộ sang phòng trọ ông S để tìm hiểu. Thấy anh T3 lớn tiếng cãi nhau với ông S nên bị cáo Danh A chửi T3 về việc anh T3 gây ồn tại dãy trọ và đuổi anh T3 đi về. Anh T3 nói lại “em có làm gì đâu mà anh chửi”, sau đó giữa bị cáo Danh A và anh T3 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Tức giận, bị cáo Danh A xông vào dùng tay đấm nhiều cái vào mặt, dùng chân đá vào người của anh T3, anh T3 giơ hai tay lên đỡ. Cùng lúc này, bị cáo N cũng xông vào dùng tay chân đấm, đá nhiều cái trúng ngực, người anh T3. Trong lúc bị cáo Danh A và bị cáo N đang đánh anh T3 thì bị cáo Đức A1 nhặt 01 viên gạch loại 02 lỗ, kích thước 18cm x 08cm x 04cm ở dưới đất (gần hiện trường), xông vào đánh 01 cái trúng vào trán trái của anh T3 gây thương tích chảy máu. Thấy anh T3 bị đánh, ông S chạy lại dùng hai tay kéo bị cáo Danh A và bị cáo Đức A1 ra để can ngăn. Bị cáo Danh A và bị cáo N quay sang dùng tay, chân đấm, đá nhiều cái trúng vào mặt, bụng ông S. Bị cáo Đức A1 cầm viên gạch nêu trên tiếp tục xông vào đánh 01 cái trúng vào trán và mắt trái của ông S gây thương tích chảy máu. Anh T3 và ông S bị choáng nằm xuống đường. Cùng lúc này, anh T4 chạy đến can ngăn thì bị cáo N xông lại dùng tay đấm trúng ngón 3 bàn tay phải gây thương tích. Sau đó, bị cáo Đức A1 vứt viên gạch tại hiện trường và cùng với các bị cáo Danh A và
