|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:179/2024/HS-ST Ngày: 27/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Ông Phạm Bá Xuân
- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 170/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 401/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thái T1 - sinh năm 1999.
Nơi thường trú: Số F ngõ B tổ A phường H, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở trước khi bị bắt: 23 ngách A L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị Thanh H; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/05/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h00' ngày 23/05/2024, Tổ công tác Công an phường T - Công an quận B, thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát địa bàn, khi đi đến khu vực tại vườn hoa Trúc Bạch đối diện số nhà A phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội thì phát hiện Phạm Thái T1 đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Lợi dụng sơ hở đối tượng mua ma tuý bỏ chạy thoát. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên tay của T1 có 01 (một) hộp giấy bên trong 03 (ba) túi ni lông chứa thảo mộc khô. Tổ công tác đã đưa T1 cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Do không có việc làm ổn định, Phạm Thái T1 vào mạng xã hội T2 để tìm mua và đăng bán ma túy cần sa để kiếm lời. Khoảng đầu tháng 5/2024 T1 vào trong nhóm T2 “Cổ mộ 420” tìm mua ma túy cần sa. Trong nhóm này có một đối tượng có tài khoản Telegram tên là: “FtuyHigh” rao bán ma túy thảo mộc cần sa. Thông qua mạng xã hội Telegram T3 đã nhắn tin với đối tượng có tên tài khoản “FtuyHigh” để hỏi mua thảo mộc cần sa. Sau đó, T3 đã 02 lần mua cần sa của đối tượng “FtuyHigh”. Lần đầu T3 mua 10 gam ma túy cần sa với giá 2.200.000 đồng; lần thứ hai T3 mua 50gam ma túy cần sa với giá 3.800.000 đồng. Hai lần mua bán ma túy nêu trên đối tượng bán ma túy cho T3 đều thuê xe ôm công nghệ ship hàng đến cho T3 ở địa chỉ B Đ, Đ, Hà Nội. Sau khi nhận hàng T3 trực tiếp trả tiền mặt cho shiper. Ngày 16/5/2024, có tài khoản T2 “Luonvuituoi” nhắn tin hỏi mua của T3 300.000 đồng ma túy cần sa (cả công ship) và hẹn giao dịch tại phố M, H, Hà Nội. T3 đồng ý và đi đến điểm hẹn bán cho anh ta 1,9 gam cần sa giá 300.000 đồng như đã thỏa thuận.
Ngày 23/5/2024, T3 tiếp tục hỏi mua 50gam cần sa với giá 4.800.000 đồng của người có tài khoản T2 “FtuyHigh”. Lần mua này, T3 đã thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản. T3 chuyển 4.800.000đ từ tài khoản số [...] mở tại V mang tên Phạm Thái T1, đến tài khoản số 1023553889 mở tại Ngân hàng S2 mang tên “Nguyễn Văn X”. Trong khi T1 đang ở nhà chờ S mang hàng, đến khoảng 12h14' ngày 23/05/2024, thì có một người có tài khoản Telegram “Bảo bê” liên hệ với T1 hỏi mua 10 gam ma túy C. T1 đồng ý và báo giá cho anh ta là 2.000.000 đồng cộng thêm 100.000 đồng tiền "Ship", khi gặp nhau sẽ giao ma túy và nhận tiền mặt. Đến 14h00' ngày 23/05/2024 thì người mua có tài khoản “Bảo bê” nhắn tin cho T1 hẹn gặp nhau để giao dịch vào khoảng từ 16h đến 17h tại A T, phường T, B, Hà Nội và số điện thoại của người mua để liên lạc là 0911.517.xxx. Khoảng 15h45' cùng ngày, T1 lấy số ma túy C vẫn còn để ở nhà từ trước cho vào 3 túi ni lông và cho vào trong một chiếc hộp giấy bọc lại để đi giao cho “Bảo bê” tại A T Đến nơi, T1 dừng xe ở ven đường cạnh vườn hoa Trúc Bạch đối diện số A phố T, gọi điện vào số điện thoại 0911.517.xxx của người mua. Tại đây, đối tượng mua ma túy đi ra gặp T1, khi anh ta đang chuẩn bị chuyển tiền mua ma túy cho T1 thì đúng lúc này Tổ công tác của Công an phường T - Công an quận B đi đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Nam thanh niên mua ma túy lợi dụng sơ hở bỏ chạy thoát.
Công an phường T, đã dẫn giải T1 đến 278 Đặng Tiến Đ, Đ rà soát, xác định người ship cần sa đến cho T1 là Đặng Đào Hải L (sinh năm: 2001, trú tại: Tòa C Gelexia River Side Y Sở, H, Hà nội). Cơ quan công an đã đưa L về trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12h30' ngày 23/5/2024, L đang ở nhà thì thấy trong nhóm Instagram “Hí AE” lên đơn gọi L đi ship, L đi xe máy Honda Wave biển kiểm soát: 90B2 - 493.84 đến khu đô thị C để nhận đơn, L được một nam thanh niên đưa cho L 01 hộp giấy để L giao cho khách, trên hộp giấy có ghi địa chỉ nhận hàng là 278 Đ, Đ, Hà Nội, điện thoại: 0906.249.xxx, khi L đến Đặng Tiến Đ liên hệ với người nhận hàng thì không liên hệ được. Ngay Sau đó Tổ công tác của Công an phường T đã gặp L và yêu cầu L về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận thường đi ship hàng như nêu ở trên cho một người ở khu vực C (L không biết thông tin cụ thể của người này), và giao cho nhiều người khác nhau. Ban đầu L không biết là hàng gì, sau L đoán là ma túy, vì giao hàng cho người nhận là Nam giới và tránh chỗ đông người. Hàng ngày L ship hàng cho công ty L2, thi thoảng mới ship hàng cho người ở khu vực C. Khi nhận và giao hàng L không mở ra kiểm tra bên trong là gì.
*Tang vật thu giữ của Phạm Thái T1:
- 01 (một) hộp giấy bên có 03 (ba) túi ni lông chứa thảo mộc khô.
- 01(một) điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh, sim số: 0906249197, IMEI: 353911909053466,, IMEI 2: 353919109351852.
- Tiền Việt Nam: 95.000 đồng.
- 01 (một) xe máy Honda Vision màu trắng, biển số 12P1-006.37.
*Tang vật thu giữ của Đặng Đào Hải L:
- 01 (một) hộp giấy có túi nilong màu bạc, bên trong chứa thảo mộc khô.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Promax màu xanh, sim số: 0941772951.
- 01 (một) xe máy Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát: 90B2-493.84.
Tại bản kết luận giám định số 3838, 3841/KL-KTHS ngày 02/06/2024 của phòng K - Công an thành phố H kết luận:
Vật chứng thu giữ của Phạm Thái T1: Thảo mộc khô bên trong 03 (ba) túi nilon, tổng khối lượng: 14,974gam đều là cần sa.
Vật chứng thu giữ của Đặng Đào Hải L: Thảo mộc khô bên trong 01 (một) túi nilon màu bạc, có khối lượng: 50,947gam là cần sa.
Quá trình giám định, Cơ quan giám định PC09 Công an thành phố H thu mẫu 1,283 gam để giám định, còn lại 13,691gam cần sa.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision mang biển kiểm soát: 12P1-006.37 phạm Thái T1 sử dụng để đi bán ma túy, quá trình điều tra xác định: chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Cao Huyền L1 (sinh năm: 2001, nơi thường trú: Khối 1 + 2 Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở: Ngách A ngõ H L, Đ, Hà Nội). Chị L1 là bạn của T1, cho T1 mượn xe máy để đi làm, chị L1 không biết việc T1 mượn xe để đi bán ma túy. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho chị L1 quản lý sử dụng.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát: 90B2-493.84 là chiếc xe Đặng Đào Hải L sử dụng đi ship hàng, quá trình điều tra xác định: chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh Đào Mạnh H1 (sinh năm: 1980; trú tại: Xóm H, xã T, B, Hà Nam) là cậu ruột của Đặng Đào Hải L. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh H1.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphoe 15 Promax màu xanh, sim số 0941772951 thu giữ của Đặng Đào Hải L. Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã trả chiếc điện thoại trên cho Đặng Đào Hải L.
Toàn bộ số vật chứng còn lại nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với số điện thoại : 0911.517.xxx là số điện thoại Phạm Thái T1 liên lạc để bán ma túy tại phố T, phường T, B, Hà Nội, Quá trình điều tra xác định: Chủ thuê bao số điện thoại là Đặng Thị H2 (sinh năm: 2002; trú tại: Thôn Đ, xã T, P, Quảng Nam). Chị H2 khai không đăng ký sử dụng số điện thoại 0911.517.xxx và cũng không cho ai mượn căn cước công dân, chị H2 không biết ai là người sử dụng số điện thoại trên.
Đối với các đối tượng bán ma túy cho Phạm Thái T1 và đối tượng mua ma túy của Phạm Thái T1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể, nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
Đối với Đặng Đào Hải L là người vận chuyển 50,947gam chất ma túy loại thảo mộc khô cần sa, quá trình điều tra xác định Đặng Đào Hải L không có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy L vận chuyển không đủ khối lượng để cấu thành tội vận chuyển trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, quá trình vận chuyển L khai: dự đoán là ma túy, L chỉ vận chuyển và không mở hàng ra xem trong quá trình vận chuyển. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Đối với số tài khoản 1023553889 mở tại Ngân hàng S2, là tài khoản Phạm Thái T1 chuyển tiền đến để mua ma túy, quá trình điều tra xác định: chủ tài khoản là Nguyễn Văn X (sinh năm: 1984; trú tại: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi). Tại Cơ quan Điều tra anh X khai: anh X không mở và không sử dụng số tài khoản trên và cũng không cho ai mượn căn cước công dân để mở tài khoản ngân hàng; anh không quen biết ai tên là Phạm Thái T1 có nhân thân nêu trên. Do đó, không có căn cứ để xác định anh X có liên quan đến hành vi của Phạm Thái T1.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 173/CT-VKSBĐ ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Thái Tài về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s,r khoản 1,2 Điều 51, Điều 38,47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Thái T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 65.921 gam cần sa ; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh, sim số: 0906249197, IMEI:353911909053466, IMEI 2: 353919109351852 và 95.000 đồng thu giữ của bị cáo.
+ Truy thu của bị cáo số tiền 300.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 17h00' ngày 23/05/2024, tại vườn hoa T, đối diện số nhà A phố T, phường T, B, Hà Nội, bị cáo đang có hành vi bán trái phép 14,974 gam thảo mộc là ma túy cần sa cho một đối tượng có tài khoản Telegram có tên “Bảo B” với giá 2.000.000 đồng thì bị tổ công tác Công an phường T, quận B, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Lợi dụng sơ hở đối tượng mua ma túy bỏ chạy thoát.
Ngoài ra, trước đó ngày 16/5/2024, thông qua mạng xã hội Telegram bị cáo đã nhắn tin trao đổi mua bán với một đối tượng có tài khoản T2 là: “Luonvuituoi”, sau đó đã bán 1,9 gam thảo mộc ma túy cần sa cho đối tượng này với giá 300.000 đồng, tại phố M, quận H, Hà Nội.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thái T1 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Phạm Thái T1 khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh, sim số: 0906249197, IMEI: 353911909053466, IMEI 2: 353919109351852 thu giữ của bị cáo là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hai chiếc điện thoại này.
- Số tiền 95.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại số tiền này cho bị cáo.
- Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý ngày 16/5/2024 thu được 300.000 đồng, vì vậy cần tiếp tục truy thu của bị cáo số tiền 300.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự,
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2,điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thái T1 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/05/2024.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01(Một) bao niêm phong bên trong có khối lượng 14,974 gam ma túy cần sa, đã qua giám định,bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Phạm Thái T1; 01(Một) hộp niêm phong bên trong có khối lượng 50,947 gam ma túy cần sa, đã qua giám định,bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Đặng Đào Hải L.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh có số IMEI: 35391909053466, IMEI 2: 353919109351852,bên trong có sim điện thoại 0906.249.xxx.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 95.000 đồng
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 221 ngày 24/09/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số:10784936 ngày 24/09/2024 Ngân hàng TMCP C.
- Truy thu của bị cáo số tiền 300.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Nam Hải |
Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 179/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Thái T1 07 (Bẩy) năm 06 (S1) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/05/2024.
