|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 179/2024/HS-ST Ngày 18 tháng 11 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến, ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 01-01-1990 tại thành phố L, tỉnh An Giang;
nơi đăng ký thường trú: số H, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: phòng 7, nhà T, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc T (chết) và bà Nguyễn Thị N; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; chưa có vợ, con.
Nhân thân:
- - Ngày 02-11-2004, bị Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 03-11-2006 chấp hành xong;
- - Ngày 24-6-2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29-4-2009 chấp hành xong bản án;
- - Ngày 21-7-2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án;
- - Ngày 05-8-2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31-8-2012 chấp hành xong bản án;
- - Ngày 12-7-2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 22-11-2020 chấp hành xong bản án.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16-8-2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.
Bị hại: Anh Thái T, sinh năm 2000, nơi cư trú: nhà không số, đường số B, khu G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người làm chứng: Lê Phúc N1, sinh năm 1966; Trần Quốc D, sinh năm 1984; Nguyễn Quá H, sinh năm 1983; tất cả đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16-8-2024, Tổ tuần tra lực lượng An ninh trật tự cơ sở tuần tra khu vực khu dân cư G thuộc phường M, thành phố L, khi đến đường N, khóm T, phường M, thành phố L, thấy Nguyễn Văn M đứng trên vỉa hè bên cạnh xe mô tô biển số 67L4-5444 vừa ném vật gì vào mảnh đất trống nên nghi ngờ, giữ M lại và tiến hành tìm vật M vừa ném. Cùng thời gian trên, anh Thái Thanh L đến trình báo bị mất trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10e màu cam hồng, có gắn ốp lưng nhựa dẻo nên anh L cùng lực lượng tuần tra tìm kiếm thì phát hiện điện thoại di động nêu trên của anh L tại mảnh đất trống nơi M vừa ném nên đưa M về trụ sở Công an phường M làm việc, M đầu thú khai nhận hành vi lấy trộm điện thoại của anh L.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S10e màu cam hồng có gắn ốp lưng bằng nhựa; 01 dao rọc giấy cán bằng nhựa màu đỏ đen; 01 cây kiềm bấm bằng kim loại; 01 vỏ bao thức ăn màu đỏ đen; 01 xe mô tô Wave màu đỏ, biển số 67L4-5444.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1462/KL-HĐĐGTS ngày 22-8-2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10e, trị giá 3.145.500 đồng; 01 ốp lưng nhựa dẻo, trị giá 22.500 đồng; tổng giá trị tài sản 3.168.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 1304/KL-KTHS ngày 15-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh A xác định: xe mô tô biển số 67L4-5444 gửi giám định có số khung, số máy bị tẩy xóa.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số: 190/CT-VKSLX ngày 25 tháng 10 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67L4-5444 được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội; tịch thu, tiêu hủy 01 dao rọc giấy có cán nhựa màu đỏ đen, 01 cây kiềm bấm bằng kim loại, 01 vỏ bao thức ăn màu đỏ đen do không còn giá trị sử dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
Tại phiên toà, bị hại anh Thái Thanh L, người làm chứng Lê Phúc N1, Trần Quốc D, Nguyễn Quá H vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16-8-2024, tại đường N, khóm T, phường M, thành phố L, bị cáo Nguyễn Văn M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10e có gắn ốp lưng nhựa của anh L trị giá 3.168.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi mẹ đã lớn tuổi. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10e có gắn ốp lưng nhựa, quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết tiếp.
Đối với xe mô tô biển số 67L4-5444 là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của bị cáo, được bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 dao rọc giấy có cán nhựa màu đỏ đen, 01 cây kiềm bấm bằng kim loại, 01 vỏ bao thức ăn màu đỏ đen thu giữ của bị cáo do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16-8-2024).
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 67L4-5444.
Tịch thu tiêu hủy: 01 dao rọc giấy có cán nhựa màu đỏ đen, 01 cây kiềm bấm bằng kim loại, 01 vỏ bao thức ăn màu đỏ đen;
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Thái T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 179/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 179/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Nguyễn Văn Mạnh - TCTS
