|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 179/2024/DS-PT
Ngày: 08/5/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
- Các Thẩm phán: Bà Hà Thị Phương Thanh
- Ông Lương Phước Đại.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 579/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 139/2023/DSST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Võ Thanh V, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông V: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
-
Bị đơn: Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn M (sinh năm 1930, chết ngày 17/01/2019), bà Phạm Thị S (sinh năm 1937, chết ngày 07/5/2021) gồm:
- - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1: Luật sư Đỗ Vinh Q, Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
- - Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- - Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- - Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S1, ông T2, bà Đ, bà T3: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Các bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Nguyên đơn ông Võ Thanh V trình bày: Vào ngày 16/6/2004, cụ Nguyễn Văn M có chuyển nhượng phần đất diện tích 1.800m² thuộc thửa số 14 và thửa số 19, tờ bản đồ số 12, tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 00194, do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp ngày 30/7/1993 cho cụ M đứng tên. Giá chuyển nhượng là 42.000đ/m2 x 1.800m² = 75.600.000 đồng, quy ra vàng thời điểm mua là 10 cây 8 phân vàng 24K. Lúc chuyển nhượng có lập tờ chuyển nhượng và có sự đồng ý của cụ Phan Thị S2 (vợ cụ M) và các con là Nguyễn Văn S1, Nguyễn Văn T1 cùng ký tên vào tờ chuyển nhượng đất, có người chứng kiến và xác nhận là ông Nguyễn Văn B, ông Phạm Minh Đ1 Ngày 20/10/2004 ông có giao 10 cây vàng 24K (loại vàng nhẫn) và 600.000 đồng tiền mặt cho cụ M. Do cụ M chết, ông làm thủ tục xin tách thửa thì các đồng thừa kế của cụ M và cụ S2 không đồng .
Nay ông yêu cầu các đồng thừa kế của cụ M, cụ S2 là ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị T3 phải tách phần đất thuộc một phần thửa số 14 và một phần thửa số 19 tại vị trí A và C theo Trích đo địa chính số 969/TTKTTNMT ngày 06/9/2023, tổng diện tích qua đo đạc thực tế là 1.446,5m², tọa lạc hiện nay tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Phía bị đơn: Các ông Nguyễn Văn T1, Ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3 cùng trình bày: Các ông, bà là con của cụ M, cụ S2. Hai cụ đã mất. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ M, cụ S2 gồm có các con là ông Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1976), ông Nguyễn Văn S1 (sinh năm 1974), ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1964), bà Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1967), bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1968). Ngoài ra cụ M, cụ S2 không có con riêng nào khác.
Sau khi cụ M chết, ông T1 sử dụng một phần đất thuộc thửa 14, 19. Phần còn lại của thửa 14, thửa 19 do ông là Nguyễn Văn S1 sử dụng. Gia đình các ông bà chưa thực hiện các thủ tục khai nhận di sản thừa kế của hai cụ. Sau khi cụ M chết thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 14 và thửa số 19 cũng mất. Gia đình đã tìm nhưng không thấy.
Thửa số 14 trước đây có diện tích 1375m², hiện tại diện tích còn lại là 1036m² do cha ông đã cho chị ông là bà Nguyễn Thị Đ một phần. Thửa số 19 trước đây có diện tích 4500m², hiện tại diện tích còn lại 3450m² do đã cho chị ông là bà Nguyễn Thị Đ một phần. Hai cụ mất không để lại di chúc.
Trước yêu cầu khởi kiện của ông V, các ông bà không đồng ý. Vì từ trước đến nay không có việc cha ông bán đất cho ai. Ông V nói cha ông bán đất cho ông V từ năm 2004 nhưng từ đó đến trước khi cha ông chết ông V không yêu cầu cha ông làm thủ tục sang tên tách thửa mà đến khi cha ông chết mới yêu cầu gia đình ông tách thửa. Những người xung quanh đất của cha ông đều chưa từng nghe nói cha ông bán đất cho ai. Ông không thống nhất với “Tờ chuyển nhượng (kí bán đất)” ngày 16/6/2004 do ông V cung cấp vì trên thực tế cha ông là cụ M không có chuyển nhượng hay làm tờ mua bán đất gì với ông V. Chữ ký Nguyễn Văn T1 không phải là của ông. Mẹ ông là Phạm Thị S chứ không phải Phan Thị S2 như trong tờ chuyển nhượng (ký bán đất) ghi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Cụ M, cụ S2 chết không có để lại di chúc đối với thửa đất số 14 và thửa đất số 19, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, nhưng các anh chị em trong gia đình thỏa thuận để lại một phần đất thuộc thửa số 14 và một phần thửa số 19 cho ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1 trực tiếp sử dụng. Thửa số 14 trước đây có diện tích 1375m², hiện tại diện tích còn lại là 1036m² do cha bà đã cho bà một phần. Thửa số 19 trước đây có diện tích 4500m², hiện tại diện tích còn lại 3450m² do đã cho bà một phần. Bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất đã cho. Và phần đất bà được cho không liên quan đến phần tranh chấp với ông V. Sau khi cha bà chết thì bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 414493, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số 01496, do Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/8/2008 cho cụ Nguyễn Văn M đối với thửa số 14 cũng mất. Gia đình bà đã tìm nhưng không thấy. Hiện tại phần còn lại của thửa 14 và thửa 19 do ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1 trực tiếp sử dụng. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh V. Vì từ trước đến nay không có việc cha bà bán đất cho ai. Ông V nói cha bà bán đất cho ông V từ năm 2004 nhưng từ đó đến trước khi cha bà chết ông V không yêu cầu cha bà làm thủ tục sang tên tách thửa. Những người xung quanh đất của cha bà đều chưa từng nghe nói cha bà bán đất cho ai.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 139/2023/DSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố “Tờ chuyển nhượng (kí bán đất) ngày 16/06/2004” là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm trả cho ông Võ Thanh V 100 chỉ vàng 24K và 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, chi phí đo đạc thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử các bị đơn đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Đỗ Vinh Q bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Cụ M và cụ S2 không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V. Ông T1 bị ông V lừa dối bảo rằng ký tên vào tờ giấy này để Nhà nước xây nhà tình nghĩa cho cụ M. Trong lúc ông V say rượu nên ký tên vào mà không đọc nội dung. Đặt giả thuyết nếu có chuyển nhượng thì tại sao ông V không vào đất canh tác. Những người làm chứng và những người thân trong gia đình không ai biết cụ M và cụ S2 đã chuyển nhượng đất. Nguyên đơn cũng không chứng minh được biên nhận đã nhận vàng của các bị đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy tờ chuyển nhượng bán đất nêu trên và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Nguyễn Thanh T đại diện ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Do phần đất chuyển nhượng là phần mương, trũng thấp nên ông V không sử dụng và phía cụ M có nói sẽ chuyển nhượng thêm cho ông V thêm phần đất nữa nên ông V mới đợi và đến khi cụ M mất thì các con của cụ M mới trở mặt. Vì vậy, ông V đồng ý hủy hợp đồng và yêu cầu phía các con của cụ M phải trả lại đúng số vàng và số tiền đã nhận như bản án sơ thẩm đã tuyên. Nguyên đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào tờ chuyển nhượng đất thì phía các bị đơn đã ký vào tờ giấy trên. Ông T1, ông S1 thừa nhận chữ ký trong tờ giấy trên là của hai ông nhưng mục đích ký là để cụ M được xây nhà tình nghĩa nên không đọc lại nội dung. Phía các bị đơn không có chứng cứ chứng minh được việc cụ M, cụ S2, ông T1, ông S1 ký tên để được xây nhà tình nghĩa và các bị đơn không yêu cầu thẩm định. Ông Lê Văn E đã xác nhận vào tờ chuyển nhượng trên và ông E thừa nhận là chữ ký tên là của ông. Bản án sơ thẩm tuyên là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, cũng nên điều chỉnh cách tuyên án của bản án sơ thẩm vì phía các bị đơn phải thực hiện các nghĩa vụ do cụ M và cụ S2 để lại nên chỉ hạn chế trong phạm vi di sản thừa kế của hai cụ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 9, Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía các bị đơn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo: “Tờ chuyển nhượng (kí bán đất) ngày 16/06/2004”. Phía bị đơn ông T1, ông S1 thừa nhận có ký tên vào tờ hợp đồng trên nhưng khi ký không xem nội dung vì hai ông nghĩ ký vào đơn xin xây nhà tình thương. Nay, cụ M và cụ S2 đã mất các bị đơn không thừa nhận có cụ M và cụ S2 có chuyển nhượng đất.
-
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Về hình thức của hợp đồng: “Tờ chuyển nhượng (kí bán đất) ngày 16/06/2004” không ra công chứng, chứng thực tại Chính quyền địa phương hay phòng công chứng. Vì vậy, vi phạm khoản 4 Điều 131 và Điều 707 Bộ luật dân sự năm 1995; khoản 2 Điều 31 Luật đất đai năm 1993 nên vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 139 Bộ luật dân sự năm 1995.
Về nội dung: “Tờ chuyển nhượng (kí bán đất) ngày 16/06/2004” thể hiện đầy đủ thông tin họ tên, số chứng minh nhân dân, ngày cấp chứng minh nhân dân của bên bán là ông Nguyễn Văn M và các con ông M gồm ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1; thông tin diện tích, mục đích sử dụng các thửa đất 45, 46, 14, 19 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng số 000149 do Ủy ban nhân dân huyện Ô cấp ngày 30/7/1993. Cụ M, cụ S2, ông T1, ông S1 có ký tên và xác nhận của ông Lê Văn E. Những người làm chứng như: Ông Nguyễn Văn B, ông Trần Văn M1, ông Trần Văn P, ông Lê Văn E, ông Tống Hoàng P1 không chứng kiến việc thỏa thuận chuyển nhượng và giao vàng nhưng biết sự việc và xác nhận sau đó. Vì vậy, chứng tỏ nguyên đơn có chuyển nhượng đất và có giao số vàng trên cho phía cụ M1 và cụ S2 là đúng sự thật.
Việc Ủy ban nhân dân xã T tại Tờ trình số 29/TTr.UB ngày 03/12/2007 xác nhận điều chỉnh biến động tăng diện tích thửa 19 của cụ M1 với nội dung việc diện tích thực tế thửa 19 nhiều hơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là quá trình đo đạc cấp giấy bị sai, cụ M1 không chuyển nhượng thêm, không trao đổi đối với các thửa đất kế cận. Từ đó, cho rằng cụ M1 không chuyển nhượng đất cho ai. Nhận định trên là không đúng vì việc chuyển nhượng đất là giao dịch giữa các đương sự nên xác nhận trên là không có cơ sở.
Do hợp đồng trên vô hiệu về hình thức và nội dung nên phải hủy hợp đồng trên. Do cụ M1 và cụ S2 đã mất nên hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ phải có trách nhiệm trả lại số tiền vàng và tiền trên cho nguyên đơn là phù hợp. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên. Tuy nhiên, có điều chỉnh lại các tuyên án của Tòa án cấp sơ thẩm. Cụ thể buộc các bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn trong phạm vi phần tài sản của cụ M1 và cụ S2 để lại.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá 6.000.000 đồng. Ông Võ Thanh V phải chịu 3.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ mỗi người phải chịu 600.000 đồng. Ông Võ Thanh V đã nộp tạm ứng 6.000.000 đồng nên ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ mỗi người phải trả cho ông Võ Thanh V 600.000 đồng tại giai đoạn thi hành án.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thanh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ 1.890.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005122 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai nên ông Võ Thanh V được nhận lại 1.590.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ mỗi người phải chịu 5.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005413 ngày 11/10/2023 thành án phí. Các bị đơn đã nộp xong khoản tiền này.
- Xét đề nghị của V1 đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 2 Điều 31 Luật đất đai năm 1993.
- Điều 139; Điều 146 Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Điều 129; Điều 131; điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị đơn: ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuyên bố “Tờ chuyển nhượng (kí bán đất) ngày 16/06/2004” là vô hiệu.
- Buộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn M và cụ Phạm Thị S là ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm trả cho ông Võ Thanh V 100 chỉ vàng 24K và 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) trong phạm vi di sản của cụ M và cụ S để lại.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu nghìn đồng). Ông Võ Thanh V phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ mỗi người phải chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Ông Võ Thanh V đã nộp tạm ứng 6.000.000 đồng (Sáu triệu nghìn đồng) nên ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ mỗi người phải trả cho ông Võ Thanh V 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tại giai đoạn thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Thanh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.890.000 đồng theo biên lai thu số 0005122 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai; ông Võ Thanh V được nhận lại 1.590.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ mỗi người phải chịu 5.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005413 ngày 11/10/2023 thành án phí. Các bị đơn đã nộp xong khoản tiền này.
Bản nán này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 179/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 179/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chap HĐCN QSDĐ voi BĐ
