|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/HS-ST
Ngày 30/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Vân, bà Lê Thị Hồng Vinh.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/2024/TLST-HS ngày 11/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 1988; Nơi cư trú:: Xóm B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Bùi Văn S, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị T1, sinh năm 1962 (đã chết); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Bùi Thị V, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2016;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 22/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định số 53 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, thời hạn 21 tháng. Ngày 26/5/2024 T vào cơ sở cai nghiện ma túy đến ngày 11/9/2023 T bỏ trốn. Ngày 11/9/2023, cơ sở cai nghiện ma túy số II - Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh H ra Quyết định số 08 truy tìm người đã có Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn đối với T.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
*Bị hại: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1967; trú tại: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 17/7/2024, T đi bộ đến khu nhà trọ của ông Nguyễn Văn P - thôn N, xã L, huyện Y xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu. T phát hiện trong sân có dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29H2-3837 không có người trông giữ nên T vào dắt xe đi được khoảng 3,5 m thì bị ông P chạy từ trong nhà ra hô: “Trộm, trộm”. T để lại xe và bỏ chạy thì mọi người bị bắt giữ đưa Tình về Công an xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐ ĐGTS ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29H2-3837 trị giá 9.000.000 đồng”.
Tại Bản cáo trạng số: 162/CT-VKSYP ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Bùi Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là ông Nguyễn Văn P vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Ông P đã nhận xe mô tô Honda Dream, BKS: 29H2-3837 và không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bùi Văn T 12 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về vật chứng: Không có. Lưu theo hồ sơ đĩa DVD ghi âm hỏi cung bị cáo.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập, đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/07/2024, tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Bùi Văn T đã có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29H-3837 của ông Nguyễn Văn P có giá trị 9.000.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình
tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 22/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thời hạn 21 tháng. Ngày 26/5/2024 T vào cơ sở cai nghiện ma túy đến ngày 11/9/2023 thì T bỏ trốn, đến ngày 17/7/2024 T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Không có.
Lưu theo hồ sơ đĩa DVD ghi âm hỏi cung bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Tình - Trộm cắp tài sản
