TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/HS-ST Ngày: 30-8-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Vân
- Bà Hoàng Thị Hồng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 30/8/2024, tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/HSST ngày 12/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST – HS ngày 14/8/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trương Văn T, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Bố: Trương Văn T1, sinh năm 1963 (đã chết); Mẹ: Hoàng Thị T2, sinh năm 1960; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Anh Hà Văn Q, sinh năm 1973
Địa chỉ: Ki ốt số A, chợ Q1, đường G, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1952
Địa chỉ: Thôn Đồng Sau, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn Đồng Sau, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1954
Địa chỉ: Thôn Đồng Sau, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Anh Trần Mạnh T3, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn Tân Phượng, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Chị Đào Thị T4, sinh năm 1975
Địa chỉ: Làng C, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Trương Văn H2, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2008, ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1954, trú tại thôn Đ, xã Đ, thành phố B thuê 3000m2 đất tại khu Đ, thôn Đ, xã Đ để nuôi trồng thủy sản, thời hạn đến ngày 15/7/2033 và đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 689310 ngày 30/7/2008. Ngày 21/5/2020, ông H1 cho ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1952 và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 là con trai ông P ở cùng thôn thuê lại thửa đất trên thống nhất để anh H đứng tên ký hợp đồng.
Khoảng cuối năm 2020, ông Nguyễn Văn P muốn chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp sang đất ở đối với diện tích đất đang thuê của ông H1 nên nhờ anh Trần Mạnh T3, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã T, thành phố B là cán bộ UBND phường M, thành phố B thì anh T3 trả lời không giúp được. Anh T3 nói với ông P nếu bán thì sẽ giới thiệu khách đến mua. Ông P đồng ý và đưa cho anh T3 xem và chụp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 689310 mang tên ông Nguyễn Văn H1 cùng một số giấy tờ liên quan và nói nếu bán được sẽ cám ơn anh T3.
Anh Trần Mạnh T3 có quen biết Trương Văn T, sinh năm 1983, trú tại thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. T giới thiệu làm môi giới kinh doanh bất động sản và nói nếu anh T3 biết có người bán đất thì giới thiệu cho T để mua.
Đầu năm 2021, anh T3 nói cho T biết có khách có thửa đất ở xã Đ, thành phố B đang muốn bán và bảo tìm để mua. T đồng ý và bảo T3 cho xem hồ sơ đất. Anh T3 đưa cho T một số giấy tờ liên quan đến thửa đất do ông P đã đưa trước đó gồm: 01 chứng minh thư nhân dân và sổ hộ khẩu mang tên Nguyễn Văn H1 (bản phô tô); 01 sơ đồ thửa đất hộ ông Nguyễn Văn H1 (bản phô tô); 01 hồ sơ đo đạc chỉnh lý địa chính thửa đất (bản gốc) và bảo T là giá bán thửa đất trên khoảng từ 2,5 tỷ đồng đến 2,6 tỷ đồng, khi tìm được khách mua thì thông báo lại cho anh T3 biết để dẫn đi gặp chủ đất làm thủ tục chuyển nhượng. T bảo anh T3 giúp chuẩn bị sẵn “Hợp đồng uỷ quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất” nội dung thể hiện việc ông H1 là chủ đất uỷ quyền cho T bán thửa đất này. Anh T3 soạn hợp đồng uỷ quyền đánh máy nhưng để trống phần dưới mục bên uỷ quyền, bên được uỷ quyền và giao cho T giấy uỷ quyền này.
Khoảng tháng 3/2021, T gặp anh Hà Văn Q, sinh năm 1973, trú tại Ki ốt số A, đường G, phường X, thành phố B cũng làm môi giới kinh doanh bất động sản. T giới thiệu thửa đất của ông H1 và nói dối anh Q là đã được chủ đất ủy quyền mua bán. T đưa cho anh Q xem bản “Hợp đồng uỷ quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Lúc này bản hợp đồng đã có chữ ký và điểm chỉ mang tên ông Nguyễn Văn H1 tại mục bên ủy quyền và chữ ký của Trương Văn T dưới mục bên được ủy quyền, theo đó ông H1 ủy quyền cho T bán 3000m2 tại thửa đất số 304 tờ bản đồ số 24 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 689310 (trước đó T đã tự ký tên vào mục bên nhận ủy quyền và điểm chỉ vào mục bên uỷ quyền). Sau đó, T dẫn anh Q xuống tận nơi để xem thửa đất. Anh Q tìm hiểu biết ông H1 là chủ sở hữu thửa đất và tin tưởng hợp đồng ủy quyền là thật nên đồng ý mua với giá 3.200.000.000 đồng.
Ngày 28/4/2021 tại ki ốt số A chợ Q1, phường X, thành phố B, anh Q và T ký hợp đồng đặt cọc để mua thửa đất trên. Anh Q đặt cọc trước cho T 100.000.000 đồng. T nhận tiền và giao cho anh Q giữ bản hợp đồng đặt cọc cùng toàn bộ giấy tờ thửa đất mà T đã nhận của anh T3 trước đó. Ngày 07/5/2021, anh Q đặt cọc thêm 100.000.000 đồng; ngày 19/5/2021, anh Q đặt cọc thêm 200.000.000 đồng. Tổng cộng T đã nhận của anh Q tiền đặt cọc mua thửa đất này là 400.000.000 đồng được thể hiện trong hợp đồng đặt cọc lập ngày 28/4/2021 và thỏa thuận trong thời gian từ ngày 28/4/2021 đến 28/9/2021 T phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất cho anh Q thì sẽ trả nốt số tiền còn lại.
Sau khi anh Q đặt cọc tiền mua đất, T gọi điện cho anh T3 hỏi về giá thửa đất có thay đổi không và thủ tục chuyển sổ đỏ thì anh T3 trả lời không ra được bìa đất ở và nói chủ đất đòi giá bán khoảng 3,8 đồng đến 3,9 tỷ đồng, đặt cọc từ 500 triệu đồng đến 700 triệu đồng. T vẫn giấu và không nói cho anh T3 biết việc anh Q đã đặt cọc 400 triệu đồng để mua thửa đất. Một thời gian sau, ông P nói với anh T3 không bán đất nữa. Anh T3 liên lạc thông báo lại T biết và yêu cầu trả lại hồ sơ đất thì T nói dối đã làm mất hồ sơ đất. Sau đó, hai người không liên lạc với nhau nữa.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết, dấu vân tay của Trương Văn T và ông Nguyễn Văn H1; trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Trần Mạnh T3, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H và Hà Văn Q trên hợp đồng đặt cọc đề ngày 28/4/2021 và Hợp đồng uỷ quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 15/01/2021.
Kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ ký, chữ viết mang tên Trương Văn T dưới mục "Bên được ủy quyền" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1); chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2 - trừ chữ ký, chữ viết dưới các mục "Đại diện bên C", "Đại diện bên B") so với chữ ký, chữ viết của Trương Văn T trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên Hà Văn Q dưới mục "Đại diện bên B" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết của Hà Văn Q trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn H1 dưới mục "Bên ủy quyền" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn H1 trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 - trừ chữ viết có nội dung "Nguyễn Văn H1", "Trương Văn T" dưới các mục "Bên ủy quyền", "Bên được ủy quyền") không phải là chữ viết của Trương Văn T, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H (bút lục 37).
Kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Dấu vân tay màu đỏ in tại các mục "Ngón trỏ phải", "Ngón trỏ trái" trên tài liệu cần giám định so với dấu vân tay in trên Chỉ bản mang tên Nguyễn Văn H1, sinh năm 1954, nơi thường trú thôn Đ, xã Đ, thành phố B là không phải của cùng một người.
Kết luận giám định số 592/KL-KTHS ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- - 02 (hai) dấu vân in trên “HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT” đề ngày 15/01/2021 có đường vân màu đỏ, thể hiện rõ đặc điểm, đủ yếu tố giám định.
- - Dấu vân in trên chữ “Ngón trỏ trái” tại “HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT” so với dấu vân in ở ô “Cái trái" trên phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân ghi tên Trương Văn T, sinh năm 1983, Nơi thường trú: thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang là của cùng một người.
- - Dấu vân in trên chữ “Ngón trỏ phải” tại “HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT” so với dấu vân in ở ô “Cái phải" trên phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân ghi tên Trương Văn T, sinh năm 1983, Nơi thường trú: thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang là của cùng một người.
Kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1- trừ chữ viết dưới các mục “Bên ủy quyền”, “Bên được ủy quyền”) so với chữ viết của Hà Văn Q trên các tài liệu mẫu là không phải do cùng một người viết ra.
- Dấu vân tay màu đỏ bên phải dưới mục “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với dấu vân tay tại ô “Cái trái” trên “Phiếu thu thập thông tin căn cước công dân” mang tên Trương Văn T, sinh năm 1983 là của cùng một người.
- - Dấu vân tay màu đỏ bên trái dưới mục “Đại diện bên A” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ phải” trên “Phiếu thu thập thông tin căn cước công dân” mang tên Trương Văn T, sinh năm 1983 là của cùng một người .
Kết luận giám định số 1000/KL-KTHS ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ viết trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1 - trừ chữ viết có nội dung "Nguyễn Văn H1", "Trương Văn T" dưới các mục "Bên ủy quyền", "Bên được ủy quyền") trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1) so với chữ viết của Trần Mạnh T3 trên các tài liệu mẫu là do cùng một người viết ra.
- Phòng K không kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Văn H1 dưới mục "Bên ủy quyền" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký Trần Thị H3, Trần Mạnh T3, Nguyễn Văn P trên các tài liệu mẫu do khác dạng nhau.
- Chữ ký có nội dung "Nguyễn Văn H1" dưới mục "Bên ủy quyền" trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1) không phải là chữ viết của Trần Thị H3, Nguyễn Văn P.
- - Phòng K không kết luận chữ viết có nội dung "Nguyễn Văn H1" dưới mục "Bên ủy quyền" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ viết của Trần Mạnh T3 trên các tài liệu mẫu do xuất hiện các đặc điểm giống nhau, đặc điểm khác nhau không giải thích được
Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 08/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trương Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Trương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tác động người thân bồi thường cho anh Q số tiền đã chiếm đoạt.
Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 08/4/2024.
Do bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Văn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không xem xét trong vụ án này.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị T4 và anh Trương Văn H2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.
Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về việc xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử do họ đã có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan là có căn cứ.
[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trương Văn T dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng hợp đồng khống, tự ký và điểm chỉ vào mục nhận uỷ quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giả mạo được chủ đất uỷ quyền cho bán thửa đất tại thôn Đ, xã Đ, thành phố B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 689310 mang tên Nguyễn Văn H1. Sau đó, T làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất này cho anh Hà Văn Q, đã nhận và chiếm đoạt của anh Q 400.000.000 đồng tiền đặt cọc mua thửa đất trên. T đã sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân và đánh bạc trên mạng bị thua hết.
[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Văn T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo sử dụng hợp đồng khống, giả mạo được chủ đất uỷ quyền bán thửa đất để làm hợp đồng chuyển nhượng, nhận và chiếm đoạt số tiền đặt cọc 400.000.000 đồng của anh Hà Văn Q. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa bị đưa ra xét xử hình sự và xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo đã tác động người nhà bồi thường khắc phục hậu quả toàn bộ cho bị hại, đầu thú và được bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo.
[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt xong hành vi bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Do bị cáo không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm và hiện đang tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Văn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không xem xét trong vụ án này.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị T4 và anh Trương Văn H2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.
[11] Quá trình điều tra, T khai hợp đồng uỷ quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông H1 uỷ quyền cho T chuyển nhượng là do anh T3 chuẩn bị từ trước và đưa cho. Anh T3 khai T chuẩn bị trước hợp đồng và nhờ T3 viết tay điền thông tin còn thiếu vào trong hợp đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa T3 và T nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai.
Kết quả điều tra xác định anh Trần Mạnh T3 được ông Nguyễn Văn P nhờ giới thiệu người mua thửa đất. Anh T3 giới thiệu cho T và đưa giấy tờ liên quan đến thửa đất. Anh T3 không biết việc T nhận tiền cọc mua đất của anh Q, không được bàn bạc và không được hưởng lợi nên không đồng phạm với T về hành vi chiếm đoạt tiền của anh Q.
Đối với T khai đã sử dụng khoảng 300.000.000 đồng tiền nhận đặt cọc của anh Q để đánh bạc bằng hình thức chơi tài xỉu trên mạng xã hội và bị thua hết. T không nhớ tài khoản để chơi tài xỉu nên không đủ căn cứ để xử lý T về hành vi đánh bạc.
[12] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- -Xử phạt bị cáo Trương Văn T 8 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 08/4/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm,
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
