|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/DS-PT
Ngày: 27/8/2024
“Tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang;
Bà Triệu Thị Luyện.
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang:
Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 312/2023/TLPT- DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71A/2024/QĐ-PT ngày 15/02/2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 85/TB-TA ngày 13/3/2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 166/TB-TA ngày 09/5/2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 251/TB-TA ngày 06/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 138/2024/QĐ- PT ngày 25/4/2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 214/TB-TA ngày 21/5/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 103A/2024/QĐ-PT ngày 27/6/2024 giữa:
- * Nguyên đơn: Ông Nịnh Văn N – Sinh năm 1966 (có mặt);
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- * Bị đơn 1. Ông Châu Văn C, sinh năm 1974(có mặt);
- Bà Lương Thị C1, sinh năm 1974(có mặt);
- 2. Ông Châu Văn Đ, sinh năm 1971(có mặt);
- Bà Mã Thị T, sinh năm 1971(có mặt);
- Địa chỉ: Thôn B, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- - Anh Nịnh Văn Đ1, sinh năm 1986 (con ông N- có mặt);
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Nịnh Thị P, sinh năm 1988 (con ông N- vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Nịnh Thị H, sinh năm 1990 (con ông N- vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Ninh Thị G, sinh năm 1992 (con ông N- vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang
- - Ông Nịnh Văn T1, sinh năm 1975(có mặt);
- - Bà Cam Thị L, sinh năm 1977(vắng mặt).
- - Anh Nịnh Văn Đ2, sinh năm 1998 (con ông T1- vắng mặt).
- - Anh Nịnh Văn Đ3, sinh năm 2001 (con ông T1- vắng mặt).
- Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang
- - Bà Chu Thị B, sinh năm 1953 (mẹ ông C- vắng mặt).
- - Anh Châu Văn K, sinh năm 1995 (con ông C- vắng mặt).
- - Anh Châu Văn H1, sinh năm 1997 ( con ông C- vắng mặt).
- - Chị Vi Thị H2, sinh năm 2001 ( con dâu ông C -vắng mặt).
- Đều có địa chỉ: Thôn B, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang
- - Bà Châu Thị T2, sinh năm 1976(vắng mặt).
- Địa chỉ: TDP C, TT A, huyện S, tỉnh Bắc Giang
- - Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang do ông Ngọc Đức V – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường (văn bản ủy quyền số 1258/UBND-NC ngày 27/4/2023) (vắng mặt).
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, Châu Văn K: Ông Dương Minh K1 – Luật sư, Văn phòng Luật sư Dương Minh N1. Có mặt
Người kháng cáo: bị đơn ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, bà Lương Thị C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn K
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, ông Nịnh Văn N trình bày: Gia đình ông có 01 thửa đất lâm nghiệp tại thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc thửa đất: Năm 1995, gia đình anh trai ông là Nịnh Văn D được Ủy ban nhân dân huyện S giao cho 11ha đất lâm nghiệp nói trên để quản lý, sử dụng. Thửa đất trên, gia đình ông D đã được Ủy ban nhân dân huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 95 ngày 02/9/1995 mang tên hộ ông Nịnh Văn D, thuộc lô c, khoảnh 13 thôn Đ, xã A. Năm 1997, ông Nịnh Văn D chuyển nhượng lại thửa đất trên cho gia đình ông và gia đình em trai ông là Nịnh Văn T1 quản lý, sử dụng, trông coi, bảo vệ. Đến năm 2001, gia đình ông và gia đình ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 023565, ngày 15/10/2001, mang tên hộ ông Nịnh Văn N, diện tích là 60.000m² thuộc lô c1 khoảnh 13, gia đình ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nịnh Văn T1, diện tích là 50.000m², thuộc lô c, khoảnh 13, thôn Đ, xã A. Tuy vậy, gia đình ông và gia đình ông T1 vẫn quản lý chung thửa đất, không phân chia ranh giới tại thực địa.
Gia đình đã tiến hành quản lý, trông coi, bảo vệ diện tích đất rừng đến khoảng năm 2011, do rừng bị nghèo kiệt, các hộ dân xung quanh đều đã chuyển sang trồng rừng kinh tế nên gia đình ông cũng phát dọn diện tích đất để trồng keo. Quá trình quản lý, sử dụng không xảy ra tranh chấp với ai.
Nguyên nhân xảy ra tranh chấp: Năm 2014, ông có nhờ cơ quan chuyên môn gồm cán bộ địa chính xã là ông Chu Văn L1, Phó ban lâm nghiệp xã là ông Hoàng Bích S và ông C2 (không rõ họ tên) – Cán bộ kiểm lâm huyện S đến thực địa để đối chiếu bản đồ giao đất, xác định ranh giới lô c khoảnh 13 cho gia đình ông. Kết quả xác định một phần diện tích lô c khoảnh 13 của gia đình ông bị gia đình ông Châu Văn C, Châu Văn Đ lấn chiếm, canh tác trồng keo. Gia đình ông có yêu cầu gia đình ông C, ông Đ phải trả lại diện tích đất lấn chiếm nhưng ông C, ông Đ không trả, vì vậy hai bên xảy ra tranh chấp.
Ông có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết. UBND xã A tiến hành hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Ban đầu, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông C, bà C1, ông Đ, bà T phải trả lại 32.392m² đất tranh chấp cho gia đình ông quản lý, sử dụng. Sau khi có kết quả xem xét thẩm định, ông thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C, bà C1, ông Đ, bà T trả lại diện tích 28.123m² đất tranh chấp theo kết quả đo đạc của Tòa án. Đối với số cây trồng trên diện tích đất tranh chấp, ông đề nghị Tòa án giao lại cho cho ông quản lý, sử dụng, ông sẽ trả giá trị bằng tiền cho bị đơn.
Ông N giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án gồm 01 bản sao Sổ hộ khẩu, 02 bản sao căn cước công dân, 01 bản sao Giấy chứng quyền sử dụng đất; 01 bản sao Giấy chứng quyền sử dụng đất lâm nghiệp; 01 bản sao Giấy chứng nhận hộ nghèo.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, bị đơn ông Châu Văn C, trình bày:
Gia đình ông có 01 thửa đất lâm nghiệp tại khu B, thôn B, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc thửa đất: Năm 1993, bố ông là Châu Văn T3 được Ủy ban nhân dân huyện S giao cho 12ha đất lâm nghiệp để quản lý, sử dụng. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp mang tên hộ ông Châu Văn T3, thuộc lô b, khoảnh 13 thôn B, xã A. Sau đó bố ông để lại cho gia đình ông và ông Châu Văn Đ quản lý, sử dụng, trông coi, bảo vệ. Sau này, gia đình ông và gia đình ông Đ tự thống nhất thỏa thuận chia diện tích 12ha đất lâm nghiệp thành 02 lô, gia đình ông quản lý 60.000m², gia đình ông Đ quản lý 60.000m². Cả hai đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn cùng nhau canh tác trên thửa đất, chưa xác định phân chia thửa đất trên thực địa.
Gia đình ông và ông Đ cùng quản lý, trông coi, bảo vệ diện tích đất rừng đến khoảng năm 2014, thì phát dọn toàn bộ diện tích đất để trồng keo. Năm 2022, gia đình đã khai thác lớp keo đầu và trồng lớp keo mới.
Năm 2014, khi gia đình ông phát dọn đất để trồng keo thì ông N cho rằng gia đình ông lấn chiếm đất thuộc lô c khoảnh 13 của ông N và yêu cầu trả lại, gia đình ông không nhất trí mà tiếp tục canh tác. Năm 2022, ông N lại tiếp tục yêu cầu gia đình ông trả lại diện tích đất tranh chấp. Ông xác định diện tích đất tranh chấp nằm trong lô b khoảnh 13 của gia đình ông đã được UBND huyện S giao cho quản lý sử dụng từ năm 1993, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về tài sản trên đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng ông và vợ chồng ông Đ, ngoài ra không còn ai khác. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc gia đình ông phải trả lại đất tranh chấp thì ông yêu cầu ông N phải nhận lại tài sản trên đất và trả cho ông giá trị bằng tiền.
Bị đơn ông Châu Văn Đ, bà Lương Thị C1, bà Mã Thị T đều trình bày thống nhất với ý kiến của ông Châu Văn C.
Tại biên bản lấy lời khai, văn bản ghi ý kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh Nịnh Văn Đ1, các chị Nịnh Thị P, Nịnh Thị H và Nịnh Thị G1 là con đẻ của ông Nịnh Văn N đều thống nhất với ý kiến của ông N.
Ông Nịnh Văn T1 trình bày: Ông là em trai của ông Nịnh Văn N. Ông xác định thửa đất thuộc lô c khoảnh 13 là tài sản chung của anh em ông,ông cũng có quyền lợi đối với thửa đất. Nay, ông N khởi kiện về việc tranh chấp đất đai, ông cũng thống nhất với ý kiến của ông N, yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc gia đình ông C, bà C1, ông Đ, bà T phải trả lại 28.123m² đất tranh chấp cho gia đình anh em ông quản lý, sử dụng. Đối với cây keo, cây bạch đàn trồng trên đất tranh chấp là tài sản của gia đình ông C, ông Đề nghị Tòa án giao lại cho gia đình ông sở hữu, ông sẽ thanh toán giá trị bằng tiền cho gia đình ông C3, ông Đ.
Bà Cam Thị L là vợ của ông Nịnh Văn T1 thống nhất với ý kiến của ông Nịnh Văn T1.
Các anh Nịnh Văn Đ2, Nịnh Văn Đ3 là con đẻ của ông Nịnh Văn T1 ủy quyền cho ông Nịnh Văn T1 đại diện, thống nhất với ý kiến của ông Nịnh Văn T1.
Bà Chu Thị B trình bày: Năm 1993, gia đình bà được Nhà nước giao cho 01 thửa đất lâm nghiệp. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là lô b, b1 hiện đã giao cho các con bà là Châu Văn C, Châu Văn Đ cùng quản lý, sử dụng trồng Keo, bạch đàn.
Lô b khoảnh 13 được giao cho 3 hộ gia đình là nhà bà và hộ ông Chu Xuân C4, hộ ông Chu Văn D1 cùng quản lý do ông T3 (chồng bà) làm tổ trưởng. Sau này 3 gia đình đã thống nhất tách lô b thành 04 lô là lô b, b1, b2, b3 giao cho các hộ tự quản lý. Giữa các hộ không có tranh chấp. Gia đình bà quản lý lô b, b1 hiện anh C, anh Đ cùng quản lý canh tác. Bà không biết lý do tại sao ông N lại cho rằng gia đình bà lấn đất của ông N và yêu cầu gia đình bà phải trả đất tranh chấp. Bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Châu Thị T2 trình bày thống nhất với ý kiến của ông Châu Văn C, Châu Văn Đ. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Nịnh Văn N.
Anh Châu Văn K, anh Châu Văn H1 và chị Vi Thị H2 trình bày thống nhất với ý kiến trình bày của ông Châu Văn C, Châu Văn Đ.
UBND huyện S trình bày: Căn cứ hồ sơ giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô c, c1, b, b1 khoảnh 13, thôn Đ, xã A cho các hộ gia đình hiện đang lưu trữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện S, có cơ sở để khẳng định: Việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô c, lô c1, lô b, lô b1 khoảnh 13 cho các hộ phản ánh đúng thực tế tại thực địa, đúng trình tự, thủ tục về giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc giao đất lâm nghiệp cho các cá nhân, hộ gia đình đều được tiến hành trên thực địa. Cách thức giao đất lâm nghiệp trên thực địa là Tổ công tác và đại diện những hộ gia đình đi nhận đất cùng đến thực địa, đứng ở vị trí đồi đối diện với thửa đất, sau đó căn cứ vào đặc điểm địa hình, giao từng lô đất cho từng hộ gia đình, xác định ranh giới theo dông, đỉnh, rạch hoặc cây cối tự nhiên, đồng thời, cán bộ chuyên môn thực hiện việc kẻ vẽ lô đất để về tính diện tích cho từng lô đất đã giao và xác lập nên bản đồ quản lý đất lâm nghiệp 02. Việc giao nhận đất lâm nghiệp có xác định vị trí lô thửa và chỉ ra ranh giới cho các hộ chứ không đo đạc, cắm mốc cụ thể vì thời điểm đó chưa có điều kiện về kỹ thuật, máy móc phục vụ việc đo đạc. Khi giao đất, tổ công tác có lập biên bản giao nhận, các thành viên của tổ công tác và đại diện của hộ gia đình nhận đất có mặt và ký vào biên bản giao nhận. Do vậy, Việc giao đất lâm nghiệp lô c, b khoảnh 13 tại thực địa là đúng với lô, thửa của bản đồ quản lý đất lâm nghiệp 02. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa có máy móc hiện đại để đo đạc, xác định diện tích đất chính xác. Diện tích đất cấp cho các hộ gia đình ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác định bằng cách tính toán theo thước đo tỷ lệ trên Bản đồ hoặc sơ đồ tỷ lệ từ 1/5.000 đến 1/25.000 về khu đất lâm nghiệp được giao. Nơi không có bản đồ với tỷ lệ trên, có thể dùng bản đồ tỷ lệ 1/50.000 phóng ra và bổ sung chi tiết ở thực địa. Vì vậy diện tích các lô ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đảm bảo tính chính xác. Khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc bằng máy móc hiện đại nên có số liệu chính xác. Đó là nguyên nhân dẫn đến chênh lệch giữa diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích tại thực địa.
Nguyên nhân các hộ canh tác không đúng với ranh giới thửa đất là do thời điểm giao đất là rừng tự nhiên, việc giao đất chỉ xác định vị trí, ranh giới theo địa hình tự nhiên, không cắm mốc giới. Sau khi được giao đất các hộ lại không canh tác ngay. Khi canh tác lại không mời cơ quan chuyên môn đến xác định ranh giới mà tự xác định nên dẫn đến việc canh tác không đúng ranh giới của thửa đất được giao.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, UBND huyện S xác định UBND huyện S giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đều đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nịnh Văn N, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá xác định:
- Đất tranh chấp giữa ông Nịnh Văn N và ông Châu Văn C là hình nối các điểm 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-1, diện tích 28.123 m2, trong đó:
- - 18.455m2 (Hình 1-2-3-4-5-6-7-8-9-12-2) thuộc lô c khoảnh 13;
- - 9.668m2 ( Hình 1-2-12-9-10-11-1) thuộc lô b khoảnh 13.
- Trên đất tranh chấp có các tài sản sau:
- - Trên diện tích 25.548m² (Hình 5-6-7-8-9-10-11-12-13-5) có 25.548m2 x 27cây/100m² = 6.898 cây keo có đường kính gốc dưới 3cm, trị giá 6.898 x 4.500đ/cây = 31.041.000đ.
- - Trên diện tích 2.575m² (Hình 1-2-3-4-5-13-12-11-1) có 2.575m² x 18cây/= 463,5 cây keo có đường kính gốc dưới 5cm, trị giá 463,5 x 6.500đ/cây = 3.013.000₫.
Toàn bộ cây keo và bạch đàn trên đất tranh chấp là tài sản của ông Châu Văn C, Lương Thị C1, Châu Văn Đ, Mã Thị T.
Ngày 11/6/2023, ông Châu Văn C, Châu Văn Đ có đơn đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa để đo đạc, xem xét thẩm định lại. Ông C, ông Đ cho rằng thửa đất có tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Chu Thị B. Yêu cầu Tòa án ký hợp đồng mời Trung tâm K2 thuộc Sở T4 cử cán bộ đo đạc đối với 05 thửa đất liền kề để đối chiếu với bản đồ giao đất 02.
Ngày 27/7/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định bổ sung ghi nhận trên đất tranh chấp còn có 01 cây Ngát là cây rừng tự nhiên, đường kính gốc là 33cm, chiều cao vút ngọn từ 13-15m, cây đã chết nửa thân trên. Ngoài ra trên đất tranh chấp còn có gốc cây đã khai thác, gốc khô, kích thước không đồng đều từ 10-50cm và cây bụi khác không có giá trị.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 12, Điều 166, Điều 169, Điều 170, Điều 203, của Luật Đất đai 2013; Điều 129, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự; khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nịnh Văn N về việc yêu cầu các bị đơn trả lại diện tích đất tranh chấp thuộc lô c khoảnh 13, thôn Đ, xã A, cụ thể như sau:
- - Cạnh hướng Đông Bắc nối các điểm 9-12-2 dài 385,14m, tiếp giáp với thửa đất ông Châu Văn C, Châu Văn Đ đang quản lý.
- - Cạnh hướng Tây Nam nối các điểm 2-3-4-5-6-7 dài 409,96m, tiếp giáp với thửa đất thửa đất ông Nịnh Văn N, ông Nịnh Văn T1 và ông Trần D2 đang quản lý.
- - Cạnh hướng T nối các điểm 7-8, dài 23,43m, tiếp giáp với thửa đất ông Trần D2 đang quản lý;
- - Cạnh hướng Bắc nối các điểm 8-9 dài 31,76m giáp thửa đất của ông Trần D2 đang quản lý. (Có sơ đồ kèm theo)
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nịnh Văn N về việc yêu cầu ông Châu Văn C, bà Lương Thị C1, ông Châu Văn Đ, bà Mã Thị T trả lại diện tích đất tranh chấp 9.668m2 ( Hình 1-2-12-9-10-11-1) thuộc lô b khoảnh 13 (bản đồ giao đất 02).
- Đối với yêu cầu về tài sản trên đất tranh chấp:
- Giao cho ông Nịnh Văn N, ông Nịnh Văn T1 quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ tài sản trên diện tích 18.455m2 đất (Hình 1-2-3-4-5-6-7-8-9-12-2) như sau:
- - 4.596 cây keo có đường kính gốc dưới 3cm, trị giá 20.682.000đ trồng trên diện tích 17.022m2 (Hình 5-6-7-8-9-12-13-5);
- - 258 cây Bạch đàn có đường kính gốc dưới 5cm, trị giá 1.677.000đ trồng trên diện tích 1.433m2 (Hình 2-3-4-5-13-12-2).
- Buộc ông Nịnh Văn N, ông Nịnh Văn T1 phải trả cho ông Châu Văn C, bà Lương Thị C1, ông Châu Văn Đ, bà Mã Thị T số tiền 22.359.000đ là giá trị tài sản trên đất tranh chấp.
- Giao cho ông Nịnh Văn N, ông Nịnh Văn T1 quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ tài sản trên diện tích 18.455m2 đất (Hình 1-2-3-4-5-6-7-8-9-12-2) như sau:
Buộc ông Châu Văn C, bà Lương Thị C1, ông Châu Văn Đ, bà Mã Thị T trả lại cho ông Nịnh Văn N, ông Nịnh Văn T1 diện tích đất tranh chấp là 18.455m2 (Hình 2-3-4-5-6-7-8-9-12-2) thuộc lô c khoảnh 13 (bản đồ giao đất 02). Đất có tứ cận như sau:
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 31/8/2023, bị đơn ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, bà Lương Thị C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn K kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và nguyên đơn, bị đơn, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự (vắng mặt tại phiên tòa).
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm số số 27/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết theo thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã có một số vi phạm nghiêm trọng sau:
[2.1] Vi phạm về thu thập tài liệu, chứng cứ:
Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để làm rõ về vị trí và ranh giới giữa các lô đất như lô c, c1, b, b1 khoảnh 13, thôn Đ, xã A giao cho các hộ gia đình ông Nịnh Văn N, Nịnh Văn T1, Châu Văn C, Châu Văn Đ.
Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thấy: Hộ gia đình ông Nịnh Văn N đã được Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 60.000m2 thuộc lô c1 khoảnh13, thôn Đ, xã A, số Q 023565 ngày 15/10/2001. Hộ ông Nịnh Văn T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích là 50.000m², thuộc lô c, khoảnh 13, thôn Đ, xã A.
Hộ gia đình ông Châu Văn C đã được Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 27.000m2 thuộc lô b khoảnh13, thôn Đ, xã A ngày 04/5/2000. Hộ ông Châu Văn Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích là 27.000m², thuộc lô b1, khoảnh 13, thôn Đ, xã A số N850541 ngày 04/5/2000.
UBND huyện S xác định việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô c, c1, b, b1 khoảnh 13 cho các hộ phản ánh đúng thực tế tại thực địa, đúng trình tự, thủ tục về giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên ông N, ông T1, ông C, ông Đ đều xác định mặc dù các ông làm thủ tục tách thửa để được cấp giấy chứng nhận riêng nhưng các hộ gia đình đều thừa nhận gia đình ông N, ông T1 đang quản lý chung với nhau lô c và c1 khoảnh 13, gia đình ông C, ông Đ vẫn cùng chung nhau canh tác lô b và b1 mà chưa phân chia đất cụ thể trên thực địa riêng cho từng hộ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ về vị trí và ranh giới cụ thể giữa các lô c, c1, b, b1 khoảnh 13, thôn Đ, xã A cho các hộ gia đình ông Nịnh Văn N, Nịnh Văn T1, Châu Văn C, Châu Văn Đ để tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ xem diện tích đất đang có tranh chấp nằm ở lô c, c1, b, b1 để xác định xem ai là người mới có quyền khởi kiện là chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ cần thiết để giải quyết vụ án. Vì vậy, cần phải xem xét tính hợp pháp của các giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho các hộ đang có tranh chấp nêu trên.
[2.2] Vi phạm về đưa thiếu người tham gia tố tụng:
Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Châu Văn Đ và bà Mã Thị T thì hộ khẩu có các người con gồm: Châu Văn H3- sinh năm 1990, Châu Văn H4- sinh năm 1995 và Châu Văn H5- sinh năm 2000. Những người này đã có công sức cùng ông Đ và bà T trồng cây, chăm sóc cây trên đất mà hộ gia đình được giao. Hơn nữa trong hộ gia đình ông N còn có bà Nguyễn Thị B1 là vợ ông N, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa những người này vào tham gia tố tụng trong vụ án là vi phạm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được tại phiên tòa.
[2.3] Vi phạm về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại biên bản làm việc ngày 04 Tháng 7 năm 2024 UBND huyện S xác định: Gia đình ông Nịnh Văn D được giao lô c, khoảnh 13, nhưng sau đó ông D lại giao lại cho em trai là các ông Nịnh Văn N, Nịnh Văn T1 quản lý, sử dụng. Gia đình ông Châu Văn T3 được giao lô b khoảnh 13, sau này lô b được tách làm 4 lô gồm lô b, b1, b2, b3. Ông Châu Văn T3 quản lý lô b, ông Châu Văn Đ quản lý lô b1, ông Chu Văn D1 quản lý lô b2, ông Chu Xuân C4 quản lý lô b3 và đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND huyện S khẳng định lô c, c1 là hai lô được tách từ lô c khoảnh 13; lô b, b1, b2, b3 là bốn lô được tách từ lô b khoảnh 13 theo bản đồ giao đất 02. Việc tách lô như trên là căn cứ vào thực trạng giao đất, giao rừng cho hộ cá nhân, gia đình trông coi, bảo vệ rừng. Nhiều hộ gia đình nhận chung nhau 1 lô đất (theo bản đồ giao đất 02); từ năm 1999 có chính sách cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (còn gọi là sổ lâm nghiệp, sổ bìa xanh) sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (còn gọi là sổ bìa đỏ), các gia đình được giao chung lô tự thỏa thuận phân chia diện tích lô đất chung với nhau và có đơn xin cấp giấy chứng nhận. Và hiện trên bản đồ địa chính xã A không thể hiện ranh giới giữa các lô c, c1, b, b1, b2, b3 của từng hộ cụ thể.
Xét thấy: Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho các hộ gia đình ông ông Nịnh Văn N, Nịnh Văn T1, Châu Văn T3, Châu Văn Đ, Chu Văn D1, Chu Xuân C4 đối với các lô c, c1, b, b1, b2, b3 khoảnh 13 không rõ ràng về ranh giới sử dụng, không có hồ sơ tách thửa, không có văn bản thể hiện về việc ông D tặng cho hay chuyển nhượng đất cho ông N, ông T1. Khi cấp đất các hộ không ký giáp ranh; các hộ gia đình sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn sử dụng chung nhau, không xác định được chính xác vị trí thửa đất mà mình được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chưa tách các thửa đất cụ thể trên thực địa.
Như vậy, về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình sử dụng các thửa đất trên là chưa đầy đủ, chưa đảm bảo. Do vậy, cần phải xem xét để hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đã cấp cho các hộ. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Từ những căn cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc thu thập chứng cứ và chứng minh của Tòa án cấp sơ thẩm không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật Tố tụng dân sự, chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện, bổ sung được; Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, bà Lương Thị C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn K; hủy bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS - ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản được xác định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị đơn ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, bà Lương Thị C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, bà Lương Thị C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Án xử phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./..
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Châu Văn C, Châu Văn Đ, Mã Thị T, bà Lương Thị C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn K.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đặng Văn Quyết |
Bản án số 178/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 178/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
