Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

Bản án số: 178/2024/HS-ST

Ngày: 27-08-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Huệ

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 08 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2024/HSST ngày 22/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HS ngày 05/08/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/ QĐ-HPT ngày 21/08/2024 đối với các bị cáo:

Bị cáo:

  1. Nguyễn Quang M; Giới tính: Nam; sinh ngày 03/08/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 311 đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thanh Q và bà Nguyễn Thị Thanh Y; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 14/01/2024 (có mặt).
  2. Bùi Lan P; Giới tính: Nữ; sinh năm 1999 tại tỉnh Đồng Tháp; Hộ khẩu thường trú: 143A ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện tại: P6-1902 chung cư V, số G Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Ngọc D và bà Mai Phương L; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 14/01/2024 (có mặt).

Bị hại:

  1. Chị Trần Ngọc Minh K, sinh năm 1999; Địa chỉ: 1 V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Chị Dương Thị Đ, sinh năm 2003; Địa chỉ: 1 đường số F, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Chị Nguyễn Thị Huyền S, sinh năm 2003; Địa chỉ: 1 đường số F, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ( vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Tạ Thị Tịnh H, sinh năm 1999; Địa chỉ: P chung cư V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 08/12/2023, tại địa chỉ số B đường B, Phường B, quận B, Nguyễn Quang M điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 67H1-812.25, áp sát bên phải xe ôm công nghệ phía trước cùng chiều chở chị Trần Ngọc M1 K và giật tài sản là điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 128GB, màu tím, số serial QC6MM4Y006, số IMEI: 352632921827048 của chị Trần Ngọc Minh K. Chị K đến Công an P3, quận B trình báo sự việc.

Sau khi cướp giật được điện thoại, vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/12/2023, Bùi Lan P đang ngủ tại nhà địa chỉ: P Chung cư V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì Nguyễn Quang M liên lạc hỏi bán 01 điện thoại iphone 14 promax, có mật khẩu icloud, P đồng ý. P hẹn M trước công Chung cư V. P trả giá điện thoại trên là 9.000.000 đồng thì được M đồng ý. P mượn tiền của Tạ Thị Tịnh H và nhờ Tạ Thị Tịnh H chuyển tiền cho M từ số tài khoản của H số 1681682828 của Ngân hàng A2 tên TA THI TINH HUE qua số tài khoản 07790303805 ngân hàng M2 mang tên N.

Kết luận định giá tài sản số 90/KLĐGTS-TCKH ngày 19/3/2024 của Phòng tài chính kết hoạch Ủy ban nhân dân quận B kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, dung lượng 128GB, màu tím giá 23.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, dung lượng 128GB, màu tím. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã trả lại điện thoại Iphone 14 Pro max, dung lượng 128GB, màu tím cho chị Trần Ngọc Minh K. Chị K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, khiếu nại gì.

Vụ thứ 2: Lúc 01 giờ 50 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Quang M điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 67H1-812.25 tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi xe đang lưu thông trên đường T hướng từ đường P về đường L, đến trước địa chỉ D T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, M phát hiện chị Dương Thị Đ đang điều khiển xe mô tô biển số 68K1-376.28 chở chị Nguyễn Thị Huyền S ngồi sau xe lưu thông phía trước cùng chiều. Chị S đang cầm trên tay phải điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax 256GB và điện thoại di động hiệu Iphone Xs max 256GB. M liền điều khiển xe chạy vượt lên bên phải rồi dùng tay trái giật 02 điện thoại mà chị S đang cầm trên tay rồi tẩu thoát, chị Đ điều khiển xe đuổi theo nhưng không kịp. Chị Dương Thị Đ và chị Nguyễn Thị Huyền S đến công an P4, quận G trình báo sự việc.

Khoảng 03 giờ ngày 16/12/2023, sau khi cướp giật được 02 điện thoại của chị S và chị Đ thì M liên lạc với Bùi Lan P để bán điện thoại. P hẹn gặp nhau tại trước số B đường Đ, Phường B, quận B để bán lại 02 điện thoại vừa cướp giật được cho P. Khi đi gặp M, P điều khiển xe Honda Vision biển số 59H1-754.82 (do Tại T đứng tên chủ sở hữu) và rủ Tạ Thị Tịnh H đi cùng. P mua 02 điện thoại di động mà M cướp giật được với giá 5.500.000 đồng và sử dụng tài khoản ngân hàng số 1905186186 của Ngân hàng A2 mang tên BUI LAN PHUONG để chuyển số tiền 5.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 0779030805 của Ngân hàng M3 mang tên NGUYEN QUANG MINH.

Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro max, dung lượng 256GB, số imei 354245335519750, đã qua sử dụng có giá trị vào ngày 16/12/2023 là 14.600.000 đồng. Điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu trắng, dung lượng 256GB, số imei 357307091124832, đã qua sử dụng có giá trị vào ngày 16/12/2023 là 6.333.333 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động Iphone XS max màu trắng trong tình trạng không khóa mật khẩu, không tài khoản icloud. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho người bị hại chị Nguyễn Thị Huyền S. Chị S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, khiếu nại gì.
  • 01 điện thoại di động Iphone 12 pro max màu xanh trong tình trạng có khóa mật khẩu nên không kiểm tra được thông tin máy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã hoàn trả cho người bị hại chị Dương Thị Đ. Chị Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, khiếu nại gì.
  • Xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 67H1-812.25. Xe trên do bà Nguyễn Thị Thanh Y (là mẹ đẻ của Nguyễn Quang M) làm chủ sở hữu. Giấy đăng ký xe ghi tên chủ sở hữu là Nguyễn Thị Y. Bà Y có giấy xác nhận hủy và cấp lại định danh cá nhân từ tên Nguyễn Thị Y thành Nguyễn Thị Thanh Y. Bà Y khai cho con ruột là Nguyễn Quang M mượn xe mô tô trên để sử dụng, không biết M sử dụng vào mục đích đi cướp giật tài sản, đã làm thủ tục hoàn trả xe chủ sở hữu.
  • Xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59H1-754.82. Qua xác minh, xe trên do Tạ Thị Tịnh H đứng tên chủ sở hữu, H khai không biết Bùi Lan P mượn xe sử dụng vào mục đích phạm tội, đã làm thủ tục hoàn trả xe cho chủ sở hữu.
  • Xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 29E2-83692, do bà Vũ Thị P1, đứng tên chủ sở hữu. Bà P1 bán lại xe mô tô trên cho anh Trần Nam A, (là cháu bà P1), có làm hợp đồng có công chứng. Trần Nam A cho anh Trần Tuấn A1 mượn để sử dụng. Trần Tuấn A1 cho Nguyễn Quang M mượn xe để sử dụng. Trong quá trình sử dụng xe, Nguyễn Quang M được mời về trụ sở Công an làm việc và giao nộp xe mô tô trên, đã làm thủ tục hoàn trả xe cho Trần Tuấn A1.
  • 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần tây màu đen, nón bảo hiểm màu trắng hiệu NH S1: là tài sản cá nhân của Nguyễn Quang M, không liên quan đến việc phạm tội, đã trả lại cho Nguyễn Quang M.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus (M sử dụng để liên lạc với Bùi Lan P).
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus (thu giữ tại nhà của Bùi Lan P là phương tiện mà P dùng để liên lạc với Nguyễn Quang M.

Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Quang M và Bùi Lan P và Tạ Thị Tịnh H thể hiện có giao dịch chuyển khoản số tiền 9.000.000 đồng và số tiền 5.500.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Quang M và Bùi Lan P đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được. Ngoài ra, M và P còn khai nhận đã thực hiện 01 vụ cướp giật điện thoại di động trên đường P, Phường B, quận P, qua xác minh, Công an quận P có công văn trả lời đã rà soát nhưng không thụ lý vụ việc “Cướp giật tài sản” nào như lời khai của M. Đồng thời cũng không ghi nhận trường hợp trình báo bị cướp giật điện thoại tương tự. Khi nào điều tra được sẽ xử lý sau.

Tạ Thị Tịnh H có cho bị cáo Bùi Lan P mượn tiền và giúp Bùi Lan P chuyển tiền mua điện thoại cho M nhưng H không biết P mua điện thoại do phạm tội mà có, phù hợp với lời khai của bị cáo Bùi Lan P nên không có cơ sở xử lý Tạ Thị Tịnh H về hành vi đồng phạm cùng Bùi Lan P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Quang M cướp giật trong 02 vụ tại B và G là 43.933.333 đồng.

Tại bản cáo trạng số 187/CTR-VKS ngày 15/07/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Quang M về tội “cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Bùi Lan P về tội “ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 điều 323, của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang M từ 04 năm đến 05 năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Bùi Lan P từ 09 đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus .
  • Buộc bị cáo M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Nguyễn Quang M và Bùi Lan P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

  3. Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Nguyễn Quang M phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự, bị cáo Bùi Lan P phạm tội “ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt qui định tại điều 323 của Bộ luật hình sự.
  4. Bị cáo Nguyễn Quang M sử dụng phương tiện xe gắn máy để đi cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội, vì hành vi này có thể xâm hại đến sức khỏe tính mạng của người bị hại và chính bản thân của bị cáo, có thể gây ra tai nạn làm chết người, gây mất trật tự an toàn giao thông, bị cáo sử dụng xe máy đi cướp giật điện thoại di động hiệu Iphone của các bị hại, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, phù hợp với qui định pháp luật.

  5. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang M và Bùi Lan P là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội.
  6. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua lại, bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản của các bị hại, 01 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn quận B và 01 vụ cướp giật trên địa bàn quận G, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận B đã ra quyết định nhập vụ án cho cơ quan cảnh điều tra công an quận G điều tra theo thẩm quyền, nên hành vi cướp giật của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo được qui định tại điểm g khoản 1 điều 52 của bộ luật hình sự đối với bị cáo M. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
  7. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo M các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Quang M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  8. Trong vụ án này có đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo M là người đi cướp giật tài sản của bị hại, rồi sau đó đem về bán lại cho bị cáo Bùi Lan P để lấy tiền tiêu xài, Bị cáo P biết rõ tài sản mà bị cáo M đem bán cho mình là tài sản do cướp giật mà có nhưng vẫn mua để bán lại cho các đối tượng khác để thu lợi bất chính, bị cáo P đã hai lần mua tài sản do bị cáo M cướp giật nên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Lan P. Số tài sản mà bị cáo Bùi Lan P mua của bị cáo M là 03 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone qua định giá có giá trị là 43.933.333 đồng, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Bùi Lan P theo khoản 1 điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo P,
  9. Đối với bị cáo Bùi Lan P lẽ ra phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự. Tài sản bị cáo tiêu thụ được thu hồi trả lại cho các bị hại. Thời gian tạm giam bị cáo Bùi Lan P từ ngày 14/01/2024 tới nay cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng mức án bằng với thời gian tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

  10. Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 171 và điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt.
  11. Về trách nhiệm dân sự:
  12. Tại phiên toà hôm nay, các bị hại là chị Trần Ngọc Minh K và chị Dương Thị D1, Nguyễn Thị Huyền S vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện các bị hại đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

  13. Về xử lý vật chứng:
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus của bị cáo M và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus của bị cáo P, các bị cáo dùng để liên lạc bán tài sản do phạm tội mà có nên Hội đồng xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
    • Đối với số tiền bị cáo M bán 03 chiếc điện thoại di động cho bị cáo P với số tiền 14.500.000 đồng, xét đây là tiền thu lợi bất chính, nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo M nộp lại để sung công quỹ nhà nước.
    • Đối với Tạ Thị Tịnh H có cho bị cáo Bùi Lan P mượn tiền và giúp Bùi Lan P chuyển tiền mua điện thoại cho bị cáo M nhưng H không biết bị cáo P mua điện thoại do phạm tội mà có, phù hợp với lời khai của bị cáo Bùi Lan P nên không có cơ sở xử lý Tạ Thị Tịnh H về hành vi đồng phạm cùng Bùi Lan P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp với qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang M phạm tội “Cướp giật tài sản” và bị cáo Bùi Lan P phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang M 03(ba) năm 09(chín) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 14/01/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Bùi Lan P 07(bảy) tháng 13 (mười ba) ngày tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 14/01/2024.

  • Áp dụng khoản 5 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo Bùi Lan P tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  • Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus .

Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 69/PNK ngày 03/04/2023 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G).

  • Buộc bị cáo Nguyễn Quang M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.500.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • -TAND TPHCM;
  • -VKSND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 178/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang M phạm tội “Cướp giật tài sản” và Bùi Lan P phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger