|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2023/HS-PT Ngày 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Anh Sơn |
| Bà Bùi Thị Thu Hằng |
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 158/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Đức T, Phạm Văn B, Trịnh Quang M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 134/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Đỗ Đức T, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức V và bà Hoàng Thị Thu H; có vợ Phạm Thị T1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Phạm Văn B, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1980 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A Đ Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình N và bà Vũ Thị N1; có vợ Nguyễn Thị Thu H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Có 02 tiền án đã xóa: Tiền án số 32/2008/HSST ngày 19/3/2008 Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 39 tháng tù về tội "Đánh bạc"; tiền án số 51/2015/HSPT ngày 18/8/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phúc thẩm phạt 04 năm tù về tội Đánh bạc; bị bắt tạm giữ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt.
3. Trịnh Quang M, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1980 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D C, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; hiện ở: Số B Chợ L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quang T2 và bà Bùi Thị H2; có vợ Hoàng Thị Hoài P (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt.
Bị cáo không kháng cáo: Phạm Quốc Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 6/2022, Đỗ Đức T mua một trang bóng tổng (M3) có tên truy cập "BZD702", mật khẩu đăng nhập “Tttt2222”, hạn mức trang bóng 3.000 điểm (gọi là điểm đô), mức quy đổi là 15.000 đồng/01 điểm, tương đương trang bóng có hạn mức 45.000.000 đồng của nam giới tên H3 (không xác định được căn cước lai lịch) để tổ chức cá độ bóng đá trên mạng internet. T không phải trả tiền mua trang bóng tổng cho H3 và thỏa thuận một tuần một lần sẽ có người (T không biết những người này là ai) đến thanh toán trực tiếp với T theo chỉ đạo của của H3. Sau đó T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone XSMax có kết nối mạng internet truy cập vào hệ thống trang web "bong88" rồi đăng nhập vào tài khoản trang bóng tổng "BZD702", từ trang bóng tổng T cắt ra trang đại lý (Agent) có tên đăng nhập là “BZD702B1”, mật khẩu là “Bbbb1111”, từ trang đại lý T cắt ra trang con bạc (Member) có tên đăng nhập là “BZD702B1111”, mật khẩu là “Mmmm1234”. Đến khoảng giữa tháng 6/2022 T bán trang con bạc này cho Phạm Văn B với hạn mức 1000 điểm, mức quy đổi là 30.000 đồng/01 điểm, tương đương trang bóng có hạn mức 30.000.000 đồng. Biết B sẽ bán trang bóng con bạc để người khác trực tiếp cá độ, nên T đã tạo và cung cấp thêm cho B một trang bóng “sub” có tên tài khoản là “S01BZ702”, mật khẩu là “Hhhh1111” để B quản lý theo dõi thắng thua của trang bóng con bạc (trang này không dùng để đánh bạc được). T và B thống nhất thanh toán với nhau trực tiếp một tuần một lần. Bình bán trang bóng con bạc này lại cho Trịnh Quang M để M trực tiếp cá độ bóng đá trên mạng Internet, với hạn mức 1.000 điểm, mức quy đổi là 50.000 đồng/01 điểm, tương đương hạn mức trang bóng là 50.000.000 đồng, Minh đổi lại mật khẩu là “Mmmm4321”. B và M thỏa thuận thanh toán với nhau hàng ngày hoặc hai ngày một lần qua chuyển khoản ngân hàng. M sử dụng trang bóng con bạc để cá độ bóng đá nhiều trận, ngoài ra còn nhận kèo đặt cược cá độ của Phạm Quốc Đ nhiều trận bằng hình thức Đ liên lạc với M hỏi kèo và tỷ lệ thắng thua các kèo của các trận bóng rồi đặt cược qua M, M sẽ nhập kèo cá độ các trận bóng qua trang bóng của mình cho Đ. Khi báo tỷ lệ thắng thua của các kèo bóng cho Đ, M sẽ báo giảm đi 05 giá so với kèo trên trang bóng (ví dụ trong trang bóng tỷ lệ kèo là 100 ăn 95 thì M sẽ báo Đ là 100 ăn 90), nếu Đ thắng cược M hưởng chệnh lệnh 05 giá, nếu thua thì Đ thua toàn bộ số tiền đặt cược. Đến ngày 11/7/2022, do có nhiều lúc Minh bận, Đ không liên lạc với M để đặt cược được nên M và Đ thống nhất chuyển trang bóng con bạc lại cho Đ trực tiếp cá độ trên mạng internet, đổi mật khẩu là “Minh1980”, tiền thắng thua Đ vẫn thanh toán tiền cho M để M thanh toán với B, M không lấy tiền chênh lệch của Đ. M và Đ thống nhất thanh toán với nhau qua chuyển khoản ngân hàng hoặc trực tiếp.
Việc cá độ bóng đá trên hệ thống mạng internet được thực hiện theo nguyên tắc: Người có tài khoản tổng (chủ cá độ) sử dụng điện thoại di động kết nối mạng internet đăng nhập vào hệ thống "bong88" để từ tài khoản tổng (gọi là M1) cắt ra tài khoản đại lý (gọi là A) và từ tài khoản đại lý cắt ra tài khoản con bạc (gọi là M2). Tài khoản tổng và tài khoản đại lý được giao cho người tổ chức cá độ quản lý và theo dõi việc cá độ của tài khoản con bạc. Mỗi tài khoản con bạc đều có mức giới hạn điểm chơi (gọi là hạn mức) do người tổ chức khống chế để giao cho người cá độ. Nếu sử dụng hết số điểm trong tài khoản sẽ không cá độ được nữa, mà người cá độ phải đề nghị người chủ cá độ chuyển thêm điểm hoặc đổi tài khoản khác để tiếp tục cá độ. Các đối tượng tự thống nhất với nhau về tỷ lệ quy đổi từ điểm cá độ thành tiền cá độ (gọi là điểm đô). Các đối tượng thống nhất không trả tiền hoa hồng khi tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Đối với người chủ cá độ khi giao tài khoản con bạc cho người cá độ, có thể nâng giá trị tiền trên mỗi điểm cá độ (điểm đô) để hưởng tiền chênh lệch. Sau khi có tài khoản con bạc, người cá độ sử dụng điện thoại có kết nối mạng internet đăng nhập tài khoản, mật khẩu trên hệ thống "bong88" rồi lựa chọn các trận bóng, các kèo và đánh cược số điểm để cá độ. Sau mỗi trận cá độ, đối tượng cá độ tính toán tiền thắng, thua bằng cách quy đổi từ điểm cá độ thành tiền cá độ để thanh toán theo tỷ lệ đã thỏa thuận với chủ cá độ.
Cụ thể M và Đ đã sử dụng điện thoại di động kết nối internet vào hệ thống trang Web "bong88” đăng nhập bằng tài khoản “BZD702B1111” và mật khẩu Mmmm4321", sau đổi mật khẩu là “Minh1980” tham gia cá độ trong 32 trận bóng đá với 43 kèo cá độ, tổng điểm cá độ là 3407,2 điểm, tương đương tổng lượng tiền cá độ trong trang bóng là 170.360.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Cụ thể có: 15 trận bóng cá độ với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), 17 trận bóng cá độ với số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến dưới 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Tổng lượng tiền cá độ bóng đá của 17 trận bóng từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) trở lên là 131.510.000 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu năm trăm mười nghìn đồng).
T3 bóng này M, Đ thua 306,2 điểm x 50.000 đồng/01 điểm = 15.310.000 đồng (Mười năm triệu ba trăm mười nghìn đồng).
Căn cứ vào dữ liệu trang bóng thu giữ được xác định tiền thắng thua trong trang bóng đối với M và Đ là: ngày 10/7/2022 Minh tự đặt cược bị thua 99,5 điểm x 50.000 đồng = 4.975.000 đồng (Bốn triệu chín trăm bẩy mươi năm nghìn đồng); từ ngày 11/7/2022 đến ngày 15/7/2022 Đ tự đặt cược bị thua 206,7 điểm x 50.000 đồng = 10.335.000 đồng (Mười triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Phạm Văn B thắng 306,2 điểm x 20.000 đồng/01 điểm = 6.124.000 đồng (Sáu triệu một trăm hai mươi tư nghìn đồng). Do B mua của T 30.000 đồng/01 điểm bán lại cho M 50.000.000 đồng/01 điểm, ăn chênh lệch 20.000 đồng/01 điểm.
Đỗ Đức T thắng 306,2 điểm x 30.000 đồng/01 điểm = 9.186.000 đồng (Chín triệu một trăm tám sáu nghìn đồng). Do không chứng minh được T mua của H3 giá 15.000 đồng/01 điểm nên T phải chịu với giá tiền đã bán trang bóng con bạc cho B.
Ngày 16/7/2022 Phạm Văn B bị Cơ quan công an triệu tập, B khai báo hành vi phạm tội của mình và nhận dạng được Đỗ Đức T. Ngày 17/7/2022 Phạm Quốc Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tự thú, Đ nhận dạng được Trịnh Quang M. Ngày 17/7/2022, Đỗ Đức T, Phạm Văn B, Trịnh Quang M bị giữ theo Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Cơ quan điều tra tiến hành truy cập trang bóng con bạc “Member” có tên “BZD702B1111” của Trịnh Quang M, Phạm Quốc Đ; trang bóng sub có tên “S01BZ702” của Phạm Văn B thấy có dữ liệu trang bóng cá độ bóng đá phù hợp với lời khai của T, B, M và Đ.
T, B, M và Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, T khai chỉ biết bán trang bóng con bạc cho B để Bình bán lại trang bóng cho người khác sử dụng. B khai chỉ thanh toán thắng thua với M, không biết Đ là ai. M và Đ khai trước ngày 11/7/2022 M đặt cược nhiều trận bóng và đánh cược cho Đ nhiều trận không nhớ trận nào của M, trận nào của Đ, riêng các trận ngày 10/7/2022 là do một mình M đặt cược, từ ngày 11/7/2022 chỉ một mình Đ đặt cược các trận, Đ chỉ thanh toán tiền thắng thua với M.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 134/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Đức T số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà Nước.
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn B 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn B số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà Nước.
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Quang M 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Quang M số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà Nước.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Đỗ Đức T, Phạm Văn B có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Trịnh Quang M kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đỗ Đức T có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.
* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Xét kháng cáo của các bị cáo Đỗ Đức T, Phạm Văn B, Trịnh Quang M là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Đức T có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút đơn của bị cáo là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đỗ Đức T theo quy định pháp luật. Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M về tội Đánh bạc theo điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Giai đoạn phúc thẩm không xuất hiện tình tiết mới, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Đỗ Đức T, Phạm Văn B, Trịnh Quang M trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về việc vắng mặt các bị cáo: Các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận:
Phạm Văn B mua tài khoản con bạc của T với giá đô 30.000 đồng/01 điểm rồi giao lại cho Trịnh Quang M trực tiếp cá độ với giá đô 50.000 đồng/01 điểm và sử dụng điện thoại di động kết nối internet vào tài khoản tổng T cung cấp để theo dõi thắng thua của trang bóng con bạc.
Trịnh Quang M trước ngày 11/7/2022 trực tiếp sử dụng điện thoại kết nối mạng internet vào trang bóng con bạc để cá độ bóng đá cho mình và cho Phạm Quốc Đ. Từ sau ngày 11/7/2022 Đ trực tiếp sử dụng điện thoại kết nối mạng internet vào trang bóng con bạc của M để cá độ bóng đá cho mình và thanh toán tiền thắng thua qua M với chủ cá độ. Cụ thể: theo dữ liệu trang bóng thu giữ được của Trịnh Quang M và Phạm Quốc Đ đã tham gia cá độ 32 trận bóng với số tiền 170.360.000 đồng, trong đó 15 trận bóng cá độ với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, 17 trận bóng cá độ với số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Toà án nhân dân quận Lê Chân đã xét xử bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn B xin giảm nhẹ hình phạt, kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang M xin hưởng án treo:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đã áp dụng mức hình phạt 48 (bốn mươi tám) tháng tù đối với bị cáo Phạm Văn B, 42 (bốn mươi hai) tháng tù giam đối với bị cáo Trịnh Quang M là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, Do vậy, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đỗ Đức T.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn B 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn B số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà Nước.
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Quang M 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 26/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Quang M số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà Nước.
Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo Phạm Văn B, Trịnh Quang M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 134/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 178/2023/HS-PT ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 178/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án ST
