TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2023/HS-ST Ngày 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2023/HSST ngày 11 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 725/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn H, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1992 tại Sơn La. Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P và bà Lò Thị T; có vợ là Lường Thị P1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 28/6/2023; tạm giam ngày 05/7/2023; có mặt.
* Người bào chữa cho Lò Văn H: Ông Phạm Duy K - Trợ giúp viên pháp lý Trung Tâm trợ giúp pháp lý thành phố H; địa chỉ: Số A L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thời điểm bị bắt giữ, Lò Văn H khai nhận: Khoảng 10h40' ngày 28/06/2023, H đứng bán mật ong cùng Quàng Văn C, sinh năm 1988 (nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La) tại khu vực gần đường tàu quận L, thành phố Hải Phòng thì có 01 nam giới không quen biết điều khiển xe mô tô đến chỗ H, C. Người nam giới hỏi H, C có mua ma túy không, H và C đã đồng ý mua ma túy. Sau đó, C điều khiển xe mô tô BKS 14F6-8823 chở H ngồi sau đi theo nam giới trên đến ngã tư Hồ S, quận L, thành phố Hải Phòng thì dừng lại. Tại đây, C đưa cho H 200.000 đồng, H xuống xe đưa tiền cho người nam giới, người này nhận tiền và bảo H1 đi theo để lấy ma túy. C xuống xe đứng đợi, còn H1 đi xe mô tô BKS 14F6-8823 theo nam giới đến khu vực cổng chùa H4 (địa chỉ: Số C D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng). Khi đi vào trong chùa H4 được khoảng 30m thì nam giới bán ma túy dừng lại đưa cho H1 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy, loại heroine. H1 nhận túi ma túy này cầm ở tay trái rồi điều khiển xe đi về, còn nam giới đưa ma túy xong bỏ đi đâu H1 không rõ. Khi H1 đi đến khu vực cổng chùa H4 thì bị Tổ công tác - Công an phường D kiểm tra phát hiện Lò Văn H thả từ tay trái xuống dưới đất sát cạnh chân trái H đang đứng 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Sau đó, Tổ công tác đã đưa H cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường D, quận L, thành phố Hải Phòng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của H 01 xe mô tô BKS 14F6-8823, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám đen.
Ngoài ra, H khai cùng Quàng Văn C thuê phòng 406 nhà nghỉ V (Địa chỉ: Số D T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng), H và C có sử dụng ma túy heroine tại căn phòng này. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi thuê trọ của H, C. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Bà Ngô Ngọc T1, sinh năm 1984 (nơi cư trú: Số D T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng là chủ nhà nghỉ có bàn giao 01 giấy phép lái xe hạng A1 ghi họ tên Quàng Văn C, sinh ngày 12/02/1988 (nơi cư trú: Xã N, huyện T, tỉnh Sơn La) là người đứng tên thuê phòng 406 nhà nghỉ V.
Đến ngày 14/11/2023, H thay đổi lời khai: Khoảng 10h40' ngày 28/06/2023, khi H và C đứng bán mật ong thì có 01 nam giới không quen biết điều khiển xe mô tô đến chỗ H, C. Người nam giới hỏi H có mua ma túy không, H đồng ý. Do không có tiền nên H hỏi mượn C 200.000 đồng và xe mô tô BKS 14F6-8823 để đi có việc, H không nói cho C biết mục đích sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Việc H phạm tội về ma túy C không biết và không liên quan. Ngoài ra, H khai chưa từng sử dụng ma túy với C. Lý do H thay đổi lời khai là do khi mới bị bắt có tâm lý sợ trách nhiệm và chưa nhận thức đúng pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 576/KL-KTHS(MT) ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Lò Văn H, đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L chưa có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với Quàng Văn C, tài liệu ban đầu xác định có dấu hiệu đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với Lò Văn H. Đến nay, H khai C không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Ngoài lời khai ban đầu của H về việc Quàng Văn C có đưa H 200.000 đồng và chở H đi mua ma túy, hiện không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định C có đưa tiền và chở H đi mua ma túy như đã nêu trên. Xác minh tại địa phương nơi cư trú, hiện C vắng mặt không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Quàng Văn C.
Bản Cáo trạng số 03/CT-VKSLC ngày 06/12/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Lò Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Qua xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng, giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Lò Văn H theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H với mức hình phạt từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và vỏ bao gói đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xám đen có số IMEI1 860817051247571; IMEI2 860817051247563 đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 ghi họ tên Quàng Văn C và 01 xe mô tô BKS 14F6-8823 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng tạm giữ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có quan điểm đồng nhất với quan điểm truy tố của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân về tội danh, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và xử lý vật chứng trong vụ án. Tuy nhiên, cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo cân nhắc áp dụng hình phạt thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có điều kiện cải tạo sớm trở về xã hội và gia đình.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Xét lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định số 576/KL-KTHS(MT) ngày 30/6/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H; các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án thể hiện: Lò Văn H đã có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân và bị Tổ công tác Công an phường D, quận L, thành phố Hải Phòng bắt quả tang tại khu vực cổng chùa H4 (địa chỉ: Số C D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng).
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố để xét xử bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng:
[3] Bị cáo Lò Văn H không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
[4] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt áp dụng:
[5] Xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy với lỗi cố ý, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt theo mức đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân mới tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo. Buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và trên cơ sở quan điểm đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận L, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[7] Đối với phong bì niêm phong số 576 MT/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xám đen có số IMEI1 860817051247571; IMEI2 860817051247563 đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn H. Qua kiểm tra chi tiết cuộc gọi và tin nhắn xác định không liên quan đến vụ án, nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/6/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 576MT/PC09 đựng số ma túy và các mẫu vật còn lại sau giám định;
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xám đen được niêm phong trong 01 phong bì thư KL: 531/PC09 có chữ ký của Phạm Quang H2 và Phạm Đắc H3
(Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |
Bản án số 178/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 178/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Lò Văn Hoàng
