|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2023/HSST Ngày: 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thanh Tâm
Ông Đỗ Quang Chung.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Viết Th; sinh năm 1982 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn L, xã M, huyện M1, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đã ly hôn vợ, có 01 con; con ông Vũ Viết Th và bà Trần Thị S; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bản án số 248/2017/HSST ngày 27-7-2017 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã hình phạt ngày 27-9-2018) ; bị bắt, tạm giữ ngày 19-4-2023, chuyển tạm giam ngày 28-4-2023; có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Trung K và anh Đoàn Văn Tr (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 19-4-2023, tổ công tác Công an phường Văn Miếu thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đường Tr phường L thành phố Nam Định phát hiện Vũ Viết Thi đang đứng cạnh xe máy biển kiểm soát 30F1 - 4272 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; Thi tự giác giao nộp từ tay trái 01 túi ni lông màu đen, bên trong là gói giấy bạc màu trắng, trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Th khai là gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Viết Thi. Ngoài ra còn tạm giữ của Th 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu bạc, biển kiểm soát 30F1 - 4272 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đều đã cũ.
Bản Kết luận giám định số 637/KL-KTHS ngày 25-4-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng, bên ngoài bọc ni lông màu đen, được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng mẫu: 0,142 (không phảy một trăm bốn mươi hai) gam.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Viết Th khai: Khoảng 11 giờ ngày 19-4-2023, Thịnh mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu bạc, biển kiểm soát 30F1 - 4272 của người tên M (Th mới làm mái tôn cùng với M được khoảng 3 ngày trước đó và không rõ lai lịch, địa chỉ) ở khu vực đường T (không rõ số nhà) đi về nhà lấy 50.000 đồng rồi điều khiển xe máy trên đến khu vực đường Tr phường L thành phố Nam Định gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 50.000 đồng Heroine. Người đàn ông bảo Th đứng chờ rồi điều khiển xe máy đi đâu đó (không nhớ biển số, kiểu dáng xe). Khoảng 15 phút sau người đàn ông quay lại nhận tiền rồi đưa cho Th 01 gói Heroine, Th cầm gói Heroine trên tay trái rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 180/CT-VKSTPNĐ ngày 25-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Vũ Viết Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Viết Th khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Viết Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Vũ Viết Th, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 637/KL-KTHS ngày 25-4-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19-4-2023, tại khu vực đường Tr phường L thành phố N, Vũ Viết Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,142 gam Heroine mục đích để sử dụng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị kết án (đã được xóa án tích). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại Samsung là tài sản của bị cáo, không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 30F1 - 4272, bị cáo khai nhận xe mượn của Minh (không rõ lai lịch, địa chỉ). Hiện chưa xác định Minh ở đâu, làm gì, chưa rõ nguồn gốc xe, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo Vũ Viết Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Viết Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 19-4-2023.
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 637/KL-KTHS; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại Sam sung nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).
- Án phí: Bị cáo Vũ Viết Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Viết Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |
Bản án số 178/2023/HSST ngày 24/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 178/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Viết Thịnh - TTMT
