Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 178/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02-12-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Huỳnh Văn Hồng.
  • 2. Ông Nguyễn Trung Du.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 473/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Lê Văn D – sinh năm: 1967 (vắng, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long

Bị đơn : bà Nguyễn Thị Lệ V – sinh năm: 1968 (vắng, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Q, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024, nguyên đơn ông Lê Văn D trình bày:

- Về hôn nhân: Ông D và bà V chung sống với nhau vào năm 1988, hôn nhân tự nguyện, do quen biết, được cha mẹ hai bên thừa nhận, có tổ chức lễ cưới và nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên thường hay cự cãi nhau. Ông D và bà V sống ly thân từ đầu năm 2000 cho đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài nên ông D yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Lệ V.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Duy H, sinh ngày 13/12/1990 hiện đã thành niên nên ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả của vợ chồng: Ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản khai ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ V trình bày:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà V và ông D hình thành do quen biết, được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên tiến hành tổ chức lễ cưới năm 1988, nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2000 phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01 năm 2000 cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên bà V đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn D1.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Duy H, sinh ngày 13/12/1990 hiện đã thành niên nên bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả của vợ chồng: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Lê Văn D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa ông và bà Nguyễn Thị Lệ V. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nguyên đơn ông D và bị đơn bà V có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D và bà V theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông D và bà V chung sống với nhau từ năm 1988 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

Căn cứ đơn xin xác nhận kết hôn gửi Ủy ban nhân dân xã T và đơn xin xác nhận gửi Ủy ban nhân dân xã H cùng ngày 15/10/2024 xác nhận ông D và bà V không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân xã H.

Hội đồng xét xử xét thấy ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988, theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý”. Vì vậy, quan hệ giữa ông D và bà V không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Do đó, không công nhận ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Ông D và bà V có một con chung tên Lê Duy H, sinh ngày 13/12/1990 hiện đã thành niên nên ông D và bà V thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả của vợ chồng: ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc ông Lê Văn D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Lệ V không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

- Không công nhận ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V là vợ chồng.

- Về con chung: Ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V có một con chung tên Lê Duy H, sinh ngày 13/12/1990 hiện đã thành niên nên ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả: Ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị Lệ V không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

Buộc ông Lê Văn D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số Nº 0009448, ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, ông Lê Văn D đã nộp đủ tiền án phí.

Bà Nguyễn Thị Lệ V không phải nộp án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Vũng Liêm;
  • - Chi cục THADS huyện Vũng Liêm;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Quốc Hiếu

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Triệu Quốc Hiếu

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger