Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 178/2024/HS-ST

Ngày 19 – 11 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Thành

2. Bà Vũ Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn C, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25/6/1966, tại: Thái Nguyên; Nơi cư trú: TDP Đ, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn S (Đã chết); con bà: Lê Thị S1 (Đã chết); Có vợ là: Nguyễn Thị N; sinh năm 1969 và có 02 con (con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993).

- Tiền án: 01, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/HSST ngày 01/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Vũ Văn C 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, Vũ Văn C chưa thi hành phần án phí của bản án nên chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân: 04, cụ thể:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/HSST ngày 28/3/2003 của Tòa án Quân sự khu vực 1 – Quân khu A xử phạt Vũ Văn C 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, Vũ Văn C đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích theo quy định.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2010/HSST ngày 12/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Vũ Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, Vũ Văn C đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích theo quy định.

+ Tại Quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục Lao động xã hội huyện P số 14017/QĐ-UBND ngày 20/8/2009 của Ủy ban nhân dân huyện P đối với Vũ Văn C trong thời hạn 12 (Mười hai) tháng. Quá trình xác minh, kiểm tra tại cơ sở không có thông tin liên quan đến đối tượng Vũ Văn C. Mặt khác, đã hết thời hiệu thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên nên Vũ Văn C được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC ngày 02/01/2010 của Công an huyện P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn C bằng hình thức phạt tiền, số tiền 200.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Quá trình kiểm tra, rà soát tại Kho bạc Nhà nước thành phố P cung cấp thông tin: Không có dữ liệu liên quan đến công dân Vũ Văn C chấp hành xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, đã hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên nên Vũ Văn C được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 21/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thanh S2; sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ D, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

- Người chứng kiến:

1. Ông Đồng Văn Q, sinh năm 1963; Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Ông Đồng Minh H; sinh năm 1979; Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 12/6/2024, tổ công tác Công an phường T, thành phố P đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên đoạn đường Q cũ thuộc khu vực tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Vũ Văn C (sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố Đ, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ZX, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 20L2-7657 di chuyển theo hướng Hà Nội đi Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Quá trình yêu cầu kiểm tra, C đã tự nguyện giao nộp từ túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục; 01 (một) mảnh viên nén màu cam và 2.425.000 đồng tiền mặt. Theo C khai nhận toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng nêu trên là ma tuý loại Heroine, còn mảnh viên nén màu cam là ma túy hồng phiến do người bán ma túy cho thêm C. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng đã qua sử dụng và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave zx, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 20L2-7657. Sau đó, tổ công tác Công an phường T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ số vật chứng theo quy định.

Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K (PC09) Công an tỉnh T tiến hành cân khối lượng số chất rắn dạng cục màu trắng đục được 0,171 gam và khối lượng mảnh viên nén màu cam được 0,028 gam, sau đó niêm phong ký hiệu lần lượt là K1, K2 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 729/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), khối lượng của mẫu giám định là 0,171 gam và mảnh viên nén màu cam trong bì niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định là chất ma túy, Methamphetamine, có khối lượng của mẫu giám định là 0,028 gam.

Quá trình điều tra, Vũ Văn C khai nhận: Khoảng 20 giờ 05 phút ngày 12/6/2024, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20L2-7657 đi từ nhà ở tổ dân phố Đ, phường N, thành phố P đến khu vực tổ dân phố V, phường T, thành phố P thì gặp 01 (một) người nam giới đang đứng tại đây. Quá trình nói chuyện, C bảo người đàn ông này “Có bán ma túy không, để cho anh một ít” thì người này bảo “Có”. Sau đó, C đưa cho người đàn ông số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho C 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục là ma túy Heroine và 01 (một) mảnh viên nén màu cam là ma túy hồng phiến. Mua được ma tuý C cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô để đi về nhà. Khi đi qua khu vực cổng Công ty M thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra, C đã tự nguyện giao nộp số ma túy nêu trên.

Vật chứng vụ án: 2.425.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 0,165 gam ma tuý, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong có chứa vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong có chứa vỏ bao mẫu lưu kho; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu honda Wave zx có BKS: 20L2-7657, màu đỏ đen đã qua sử dụng có số khung: RLHHC09025Y109629, số máy: HC09E 5169644; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A12 màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Văn C được niêm phong trong phong bì kí hiệu ĐT2. Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 152/CT-VKSPY ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 152/CT-VKSPY ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn C mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 12/6/2024.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo Vũ Văn C

4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,165 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2, bên trong có chứa vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L, ghi vỏ bao mẫu lưu kho;
  • - Trả lại: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT2 ghi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Văn C cho Vũ Văn C quản lý, sử dụng; Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave zx có BKS 20L2-7657, màu đen, xe cũ đã qua sử dụng có số khung: RLHHC09025Y109629, số máy HC09E – 5169644, dung tích 97m³ cho bà Vũ Thanh S2 quản lý, sử dụng.
  • - Trả lại số tiền 2.425.000đ cho Vũ Văn C quản lý, sử dụng tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành phần án phí của bản án.

Ngoài ra, còn đề nghị bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn C tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng ... và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 20 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Vũ Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,171 gam ma túy, loại Heroine và 0,028 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an phường T, thành phố P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng khối lượng hai chất ma túy mà Vũ Văn C tàng trữ là 0,199 gam.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số: 152/CT-VKSPY ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

  • - Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật khác nhau như: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/HSST ngày 01/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Vũ Văn C 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/HSST ngày 28/3/2003 của Tòa án Quân sự khu vực 1 – Quân khu A xử phạt Vũ Văn C 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2010/HSST ngày 12/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Vũ Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”... Do đó bị cáo là người có nhân thân xấu.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bởi lẽ: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 27/HSST ngày 01/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Vũ Văn C 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án, tuy nhiên bị cáo chưa thi hành phần án phí của bản án nêu trên với lý do “Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chưa nhận được bản án nên chưa có căn cứ thi hành án theo quy định”. Đối chiếu với hướng dẫn tại mục 7 phần I Công văn số: 64/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự, tố tụng hành chính ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định.

[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét quan điểm giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự còn quy định:

“...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”

Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

[7]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,165 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2, bên trong có chứa vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L, ghi vỏ bao mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.

  • - Đối với 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT2 ghi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Văn C – Xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng;
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave zx có BKS 20L2-7657, màu đen, xe cũ đã qua sử dụng có số khung: RLHHC09025Y109629, số máy HC09E – 5169644, dung tích 97m³ – Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Vũ Thanh S2, chị S2 cho Vũ Văn C mượn để làm phương tiện đi lại, việc C sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy thì chị S2 không biết và không được bàn bạc với C nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần trả lại chiếc xe này cho chị Vũ Thanh S2 quản lý sử dụng là phù hợp
  • - Đối với số tiền 2.425.000đ thu giữ trên người của Vũ Văn C khi bắt quả tang – Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là số tiền do bị cáo lao động mà có không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử lý trả lại cho bị cáo Vũ Văn C quản lý, sử dụng tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành phần án phí của bản án.

[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[10]. Về các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy Heroine, Vũ Văn C khai mua của một người nam giới tên “Huấn” (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

2.1 Hình phạt chính: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 12/6/2024.

2.2 Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Văn C 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.

4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,165 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2, bên trong có chứa vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L, ghi vỏ bao mẫu lưu kho;
  • - Trả lại: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT2 ghi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Văn C cho Vũ Văn C quản lý, sử dụng; Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave zx có BKS 20L2-7657, màu đen, xe cũ đã qua sử dụng có số khung: RLHHC09025Y109629, số máy HC09E – 5169644, dung tích 97m³ cho bà Vũ Thanh S2 quản lý, sử dụng
  • - Trả lại số tiền 2.425.000đ cho Vũ Văn C quản lý, sử dụng tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành phần án phí của bản án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 07/10/2024 và ủy nhiệm chi số 397 ngày 08/10/2024)

5. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Vũ Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo Vũ Văn C có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Cơ quan CSĐT – CATP Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - Bị cáo; Bị hại; Đương sự (nếu có);
  • - Người bào chữa (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 178/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger